Nghị định 44-NĐ ban hành năm 1958 bởi Bộ trưởng Bộ Giao thông và Bưu điện nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều khoản quan trọng của Nghị định số 348-NĐ về Luật đi đường bộ. Văn bản này thiết lập các quy tắc giao thông đường bộ chặt chẽ hơn, áp dụng thống nhất cho mọi phương tiện và người tham gia giao thông nhằm bảo đảm an toàn trật tự công cộng.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định quy định nghĩa vụ chấp hành luật đối với tất cả các loại xe cộ, không phân biệt xe công hay xe tư, xe cơ giới hay xe thô sơ. Mọi cá nhân, tổ chức điều khiển phương tiện giao thông trên các tuyến đường bộ đều thuộc đối tượng điều chỉnh của văn bản này.
Nội dung sửa đổi, bổ sung cốt lõi của Luật đi đường bộ
Nghị định 44-NĐ năm 1958 đã bãi bỏ Điều 31 và tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy định quan trọng từ Điều 6 đến Điều 41 của Luật đi đường bộ cũ, cụ thể như sau:
1. Quy định về kiểm soát tốc độ phương tiện (Điều 6 mới)
Người lái xe phải luôn làm chủ tốc độ trong mọi tình huống. Tốc độ phải được giảm đến mức an toàn hoặc phải dừng hẳn xe trong các trường hợp sau:
- Đi qua thành phố, thị xã, thị trấn, khu vực có nhà sát lề đường hoặc nơi đông người tụ họp.
- Đi qua cầu, đoạn đường xấu, đường hẹp hoặc đường ngoặt.
- Tầm nhìn bị hạn chế do sương mù, mưa to, lúc trời sầm tối hoặc chưa sáng rõ mà xe không có đèn.
- Khi tránh, vượt xe khác hoặc tránh chướng ngại vật trên đường.
- Di chuyển vào ban đêm khi chuyển từ đèn pha sang đèn cốt.
2. Tiêu chuẩn kỹ thuật đối với bánh xe (Điều 8 mới)
- Xe thô sơ kéo bằng súc vật (xe trâu, bò, ngựa) sử dụng bánh sắt phải bảo đảm tiêu chuẩn tải trọng tối đa là 60kg trên mỗi 1cm bề rộng tổng cộng của bánh xe. Bề rộng tối thiểu của bánh xe phải đạt từ 6cm trở lên (các xe hiện hữu chưa đạt chuẩn được phép dùng đến khi hỏng).
- Cấm các loại xe cơ giới bánh xích (Chenille) lưu thông trên đường ô tô, trừ trường hợp đặc biệt được cơ quan quản lý giao thông cấp phép.
3. Quy định nghiêm ngặt về đỗ xe trên đường (Điều 10 mới)
Nghị định nghiêm cấm việc đỗ xe trên đường nếu không có lý do chính đáng. Khi đỗ xe, phải tuân thủ các nguyên tắc:
- Không gây cản trở giao thông và lối ra vào của các hộ dân ven đường.
- Trong đô thị: Xe phải đỗ sát bờ hè, khoảng cách từ bánh xe đến bờ hè không được quá 20cm.
- Trên đường trường: Phải đỗ hẳn ra lề đường nếu lề đường đủ rộng.
- Cấm đỗ xe tại đô thị trong phạm vi: Cách ngã ba, ngã tư dưới 5 mét; tại đoạn đường ngoặt; trong hàng đanh; gần điểm dừng của tàu điện và xe buýt.
- Cấm đỗ xe trên đường trường trong phạm vi: Cách ngã ba, ngã tư dưới 10 mét; trên cầu và gần đầu cầu; gần đầu dốc hoặc đường cong bị che khuất tầm nhìn trong vòng 50 mét.
- Khi đỗ xe, người lái không được rời xe khi chưa thực hiện các biện pháp an toàn. Nếu xe hỏng hoặc gặp tai nạn phải nằm lại đường, người lái phải thu xếp để không cản trở giao thông và phải có đèn báo hiệu vào ban đêm.
4. Giới hạn tốc độ tối đa của xe cơ giới (Điều 19 mới)
Ngoại trừ các xe ưu tiên đang làm nhiệm vụ khẩn cấp (xe chữa cháy, xe hộ đê, xe cứu thương, xe công an, xe quân sự), tốc độ tối đa của các phương tiện được quy định cụ thể theo từng địa hình:
- Đường đồng bằng: Xe ô tô hạng nặng tối đa 40km/h; xe ô tô con và mô tô tối đa 50km/h; xích lô máy và xe đạp máy tối đa 25km/h.
- Đường đồi núi: Xe ô tô hạng nặng tối đa 20km/h; xe ô tô con và mô tô tối đa 35km/h; xích lô máy và xe đạp máy tối đa 15km/h.
- Trong đô thị (thành phố, thị xã, thị trấn): Xe ô tô hạng nặng tối đa 15km/h; xe ô tô con và mô tô tối đa 30km/h; xích lô máy và xe đạp máy tối đa 12km/h.
- Ủy ban hành chính địa phương có quyền ấn định tốc độ tối đa thấp hơn mức chung tùy theo tình hình thực tế để bảo đảm an toàn. Người điều khiển phương tiện phải tuyệt đối tuân thủ biển báo hạn chế tốc độ.
- Những xe không bị hạn chế tốc độ nêu trên phải mang dấu hiệu thống nhất cho từng loại để phục vụ công tác kiểm soát.
5. Quy tắc tránh xe đi ngược chiều (Điều 20 mới)
- Khi tránh nhau tại đường hẹp hoặc nguy hiểm, cả hai xe phải giảm tốc độ. Xe muốn đi trước phải ra hiệu xin đường (giơ tay hoặc nhấp nháy đèn) và chờ xe kia đồng ý nhường đường mới được đi.
- Tại đường hẹp có bố trí chỗ tránh, xe nào gần chỗ tránh hơn phải lùi vào để nhường đường.
- Tránh nhau trên dốc hẹp: Xe đi xuống dốc phải dừng lại nhường đường cho xe đi lên dốc.
- Xe nào có phần đường bị vướng chướng ngại vật phải dừng lại nhường đường cho xe đi hướng ngược lại.
- Ban đêm, phương tiện phải tắt đèn pha và bật đèn cốt khi tránh xe ngược chiều.
6. Quy tắc vượt xe cùng chiều (Điều 21 mới)
- Xe muốn vượt phải còi báo hiệu (hoặc nhấp nháy đèn pha vào ban đêm trong đô thị). Xe phía trước nếu đủ điều kiện an toàn phải giảm tốc độ, tránh về bên phải và ra hiệu cho phép vượt (tay đưa ngang).
- Xe sau chỉ được vượt khi có tín hiệu đồng ý từ xe trước và bảo đảm phía trước không có chướng ngại vật. Sau khi vượt, phải giữ khoảng cách an toàn trước khi trở lại làn đường bên phải.
- Nghiêm cấm vượt xe tại: Ngã ba, ngã tư, đầu dốc, đoạn đường cong, hẹp, nguy hiểm, trên cầu (trừ cầu có làn vượt riêng), hoặc khi tầm nhìn bị hạn chế do thời tiết xấu.
- Khi vượt xe điện chạy giữa đường, phải vượt về phía bên phải. Tuyệt đối không vượt khi xe điện đang đỗ để hành khách lên xuống.
7. Quy định về trọng tải và xếp dỡ hàng hóa (Điều 32 mới)
- Xe thô sơ kéo bằng súc vật phải tuân thủ giới hạn tải trọng 60kg/1cm bề rộng bánh xe; hàng hóa không được xếp dài quá 10m và cao quá 2m tính từ mặt đất.
- Xe xích lô chở hàng không được quá 150kg. Xe xích lô chở người tối đa 2 người lớn; nếu chở hỗn hợp thì tối đa 1 người lớn và 100kg hàng hóa.
- Hàng hóa trên mọi phương tiện phải được chằng buộc chắc chắn, không được xếp tràn ra ngoài thùng xe để tránh rơi vãi gây nguy hiểm.
8. Trách nhiệm và xử lý khi xảy ra tai nạn giao thông (Điều 41 mới)
- Người lái xe và chủ xe vi phạm gây tai nạn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường thiệt hại theo luật dân sự.
- Khi xảy ra tai nạn, phải giữ nguyên hiện trường; người lái xe phải có mặt tại hiện trường để phối hợp lập biên bản.
- Mọi phương tiện đi ngang qua nơi xảy ra tai nạn có trách nhiệm hỗ trợ đưa người bị thương đi cấp cứu (trừ các xe ưu tiên đang làm nhiệm vụ khẩn cấp). Hành vi trốn tránh trách nhiệm cứu người bị nạn sẽ bị xử lý theo luật hình sự.
- Các xe chở khách hoặc chở hàng không được từ chối chở người bị nạn, ngay cả khi đã đầy tải. Trong trường hợp này, xe được phép chở quá tải tối đa 1/10 số khách hoặc 1/20 trọng tải quy định mà không bị coi là vi phạm pháp luật. Nếu cần thiết, hành khách hoặc hàng hóa trên xe phải xuống bớt để ưu tiên cứu chữa người bị thương.
Trách nhiệm thi hành
Các chức danh bao gồm Chánh văn phòng Bộ Giao thông và Bưu điện, Giám đốc Nha Giao thông, cùng Ủy ban hành chính các khu, tỉnh và thành phố chịu trách nhiệm tổ chức, đôn đốc và giám sát việc thi hành nghiêm chỉnh các quy định tại Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ GIAO THÔNG VÀ BƯU ĐIỆN | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 44-NĐ | Hà Nội, ngày 27 tháng 05 năm 1958 |
SỬA ĐỔI LUẬT ĐI ĐƯỜNG BỘ BAN HÀNH DO NGHỊ ĐỊNH SỐ 348-NĐ NGÀY 03-12-1955
BỘ TRƯỞNG BỘ GIAO THÔNG VÀ BƯU ĐIỆN
Căn cứ Nghị định số 348-NĐ ngày 03-12-1955 ban hành Luật đi đường bộ;
Căn cứ Nghị định số 139/NĐ ngày 19-12-1955 sửa đổi điều 22 và điều 24 của Luật đi đường bộ;
Theo đề nghị của Nha Giao thông và sau khi đã có ý kiến của Bộ Công an,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. Nay thêm vào Luật đi đường bộ một điều như sau:
Điều 1-b thêm – Chấp hành luật – “Tất cả các loại xe cộ, bất luận là xe công hay xe tư, xe cơ giới hay xe thô sơ, đều phải nghiêm chỉnh chấp hành Luật đi đường bộ này.”
Điều 3. – Nay sửa đổi như sau các điều 6, 8, 10, 19, 20, 21, 32 và 41 trong Luật đi đường bộ:
Điều 6 mới. – “Tốc độ - Người lái xe lúc nào cũng phải làm chủ được tốc độ của xe. Trong những trường hợp dưới đây, tốc độ xe phải giảm đến mức không nguy hiểm để có thể tránh được tai nạn và nếu cần, xe phải đỗ hẳn lại:
- Qua các thành phố, thị xã, thị trấn, các quãng đường có nhà làm sát lề đường, những nơi có đông người tụ họp;
- Qua cầu, qua giữa quãng đường xấu, đường hẹp, đường ngoặt, vv…
- Khi không trông rõ đường vì trời có sương mù hay mưa to, lúc trời đã sầm tối hay chưa sáng tỏ, xe không đi đèn;
- Khi tránh hay vượt các xe khác, khi tránh các chướng ngại vật trên đường;
- Ban đêm khi tắt đèn pha đi đèn cốt.”
Điều 8 mới. – “Bánh xe – Xe trâu, xe bò, xe ngựa bánh bằng sắt phải bảo đảm tiêu chuẩn.
60kg (trọng lượng xe và hàng hóa xếp trên xe)
1cm (bề rộng tổng cộng của các bánh xe)
và bề rộng tối thiểu của bánh xe phải là 6cm.
Những xe đang dùng bề rộng của bánh xe không đủ 6cm vẫn được phép dùng cho đến khi hỏng bánh.
Xe cơ giới bánh bằng xích (Chenille) không được chạy trên đường ô tô trừ trường hợp đặc biệt được cơ quan giao thông cho phép”.
Điều 10 mới. – “Đỗ xe - Nếu không có lý do chính đáng, xe không được đỗ ở đường.
Xe đỗ ở đường phải hết sức tránh làm cản trở sự đi lại trên đường và không được cản lối ra vào của các nhà ở ven đường.
Trong các đường phố, xe không được đỗ sát bờ hè nhưng không được đỗ cách bờ hè quá 20cm.
Trên đường trường nếu lề đường rộng, xe phải đỗ hẳn ra lề đường.
Trong các thành phố, thị xã và thị trấn, cấm xe cộ các loại đỗ:
- Cách đầu ngã ba, ngã tư dưới 5cm;
- Ở những chỗ đường ngoặt;
- Trong các hàng đanh;
- Gần những địa điểm đỗ của các tàu điện và xe buýt.
Trên đường trường, xe cộ không được đỗ:
- Cách gần ngã ba, ngã tư dưới 10mét;
- Trong cầu và gần đầu cầu;
- Gần đầu dốc và gần chỗ đường cong nếu tầm nhìn cả hai phía bị che khuất trong vòng 50mét.
Khi xe đỗ, người lái xe không được bỏ xe đi chỗ khác trước khi thi hành những biện pháp cần thiết để ngăn ngừa tai nạn. Nếu vì bị hư hỏng hay vì tai nạn mà xe phải nằm đường, hàng hóa dỡ xuống chưa kịp mang đi thì người lái xe phải thu xếp, bố trí để sự đi lại không bị cản trở và nếu trời tối thì phải có đèn báo hiệu.”
a) Đường đồng bằng.
- Xe ô tô hạng nặng 40km 1 giờ
- Xe ô tô con và mô tô 50km
- Xích lô máy và xe đạp máy 25km
b) Đường đồi núi.
- Xe ô tô hạng nặng 20km 1 giờ
- Xe ô tô con và mô tô 35km
- Xích lô máy và xe đạp máy 15km
c) Trong các thành phố, thị xã và thị trấn.
- Xe ô tô hạng nặng 15km 1 giờ
- Xe ô tô con và mô tô 30km
- Xích lô máy và xe đạp máy 12km
Ở các thành phố và thị xã, tùy theo tình hình đường phố, Ủy ban hành chính có thể ấn định những tốc độ tối đa thấp hơn mức trên để đảm bảo an toàn giao thông.
Trong các thành phố, thị xã và thị trấn cũng như trên đường trường ở những nơi nào có biển hạn chế tốc độ thì các xe phải tuyệt đối tuân theo.
Những xe không bị hạn chế tốc độ nói ở trên phải mang dấu hiệu thống nhất cho mỗi loại để tiện việc kiểm soát.”.
Điều 20 mới. – “Tránh xe – Khi hai xe tránh nhau ở những quãng đường hẹp hay nguy hiểm thì cả hai xe đều phải giảm tốc độ và nếu cần thì một xe phải đỗ hẳn lại cho xe kia đi. Xe nào muốn đi trước thì phải làm hiệu xin đường (giơ tay lên hoặc nhấp nháy đèn) và phải chờ cho xe kia ra hiệu bằng lòng nhường đường và đỗ lại rồi mới được đi.
Nếu đường hẹp chỉ đủ cho một xe đi và có bố trí chỗ tránh thì xe nào gần chỗ tránh hơn phải lui về chỗ tránh để nhường đường cho xe kia.
Tránh nhau ở giữa dốc hẹp thì xe ở trên dốc xuống phải đỗ lại cho xe ở dưới dốc tiến lên.
Hai xe gặp nhau, xe nào thấy bên đường đi của mình bị vướng thì phải đỗ lại nhường cho xe kia đi.
Ban đêm xe ô tô và mô tô gặp các xe cộ khác đi ngược đường phải tắt đèn pha để đi đèn cốt”.
Điều 21 mới. – “Vượt - Muốn vượt xe phải báo hiệu bằng còi. Ban đêm trong các thành phố, có thể báo hiệu bằng cách nhấp nháy đèn pha. Xe đi trước nghe thấy còi hay thấy hiệu đèn đòi vượt phải để cho xe sau vượt nếu không có gì trở ngại và nguy hiểm.
Nếu có thể cho vượt được, xe đi trước từ từ lái sang bên phải và phải ra hiệu (tay đưa ngang) cho xe sau vượt. Trong khi xe sau đang vượt, xe trước vẫn phải đi sát lề bên phải và tuyệt đối không được tăng tốc độ.
Nếu không thể để cho vượt vì phía trước có chướng ngại vật hay xe cộ đi lại hoặc vì bất cứ lý do gì khác thì xe đi trước phải ra hiệu cho xe sau biết (tay đưa xuống theo chiều dọc).
Xe đi sau chỉ được vượt khi đã thấy xe trước ra hiệu cho vượt nhưng phải chắc chắn phía trước không có chướng ngại vật hay xe đi lại. Khi đã vượt được rồi, người lái xe phải từ từ lái sang bên phải sau khi biết chắc chắn không nguy hiểm cho xe vừa bị vượt.
Tuyệt đối cấm xe vượt ở ngã ba, ngã tư đường ở đầu dốc, chỗ đường cong, hẹp, nguy hiểm, ở trên cầu (trừ cầu có chỗ dành riêng để vượt) và những khi không trông thấy rõ đường vì có sương mù hay mưa to.
Trái với điều 3, khi vượt xe điện đi ở giữa đường thì vượt bên phải. Nếu xe đang đỗ, có người lên xuống thì không được vượt.”.
Điều 32 mới. – “Trọng tải - Xếp hàng - Đối với xe trâu, xe bò, xe ngựa kể cả các xe bề rộng của bánh không đủ 6cm và được phép sử dụng cho tới khi hỏng bánh, hàng hóa xếp trên xe không được quá tiêu chuẩn 60kg/1cm quy định ở điều 8 trên.
Xe xích lô chở hàng hóa không được chở nặng quá 150kg. Nếu chở người chỉ được chở nhiều nhất là 2 người lớn. Trường hợp chở cả người và hàng hóa thì mức tối đa là 1 người lớn + 100kg hàng.
Hàng hóa không được xếp chờm ra ngoài thùng xe và phải chằng buộc cẩn thận để tránh rơi vãi trong khi đi đường. Xe trâu, xe bò, xe ngựa không được xếp hàng dài quá 10m và cao quá 2m tính từ mặt đất.”.
Điều 41 mới. – “Tai nạn. Xe cộ vi phạm luật lệ giao thông gây ra tai nạn thì người lái xe và chủ xe đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại theo dân luật chung.
Mỗi khi xảy ra tai nạn, xe cộ phải để nguyên ở hiện trường, người lái xe dù vô sự cũng phải có mặt tại chỗ để chờ nhân viên có thẩm quyền đến lập biên bản.
Xe ô tô qua nơi xảy ra tai nạn có người bị thương cần phải cấp cứu có nhiệm vụ chở người bị thương đến trạm cấp cứu hay bệnh viện gần nhất trừ những xe chữa cháy, xe hộ đê, xe của các cơ quan Quân sự, Công an trong trường hợp các xe đó đang có nhiệm vụ khẩn cấp. Người trốn tránh nhiệm vụ tải thương sẽ bị xử phạt theo hình luật chung.
Xe chở hàng hóa và xe chở hành khách, bất luận là xe dùng riêng hay xe kinh doanh vận tải, dù đã đủ số hành khách được phép chở hay đã xếp hàng đến mức tối đa ấn định cũng không được từ chối chở người bị thương. Trong trường hợp này xe được chở thêm 1/10 số hành khách được phép chở hoặc 1/20 trọng tải tối đa của xe mà không coi là vi phạm điều 13 và điều 32 trên. Nếu số người bị thương nhiều, trọng lượng tổng cộng quá mức 1/10 xe được chở thêm (mỗi người tính 50kg) thì một số hành khách phải xuống xe hay một số hàng hóa phải dỡ xuống để đảm bảo xe chở được hết số người bị thương mà không vượt mức được chở thêm”.
| KT. BỘ TRƯỞNG BỘ GIAO THÔNG VÀ BƯU ĐIỆN |
- 1Quyết định 875-QĐ năm 1962 về việc cho phép xe ô tô tiếp chuyển hành khách được ưu tiên qua phà do Bộ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải ban hành
- 2Thông tư 005-TT năm 1960 bổ sung và thi hành các điều 19 và 24 Luật đi đường bộ theo Nghị định 348-NĐ và các Nghị định sửa đổi 139-NĐ; 44-NĐ do Bộ Giao Thông và Bưu Điện ban hành
- 3Luật Giao thông đường bộ 2001
Nghị định 44-NĐ năm 1958 Sửa đổi Nghị định 348-NĐ về Luật đi đường bộ do Bộ trưởng Bộ Giao Thông và Bưu Điện ban hành
- Số hiệu: 44-NĐ
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 27/05/1958
- Nơi ban hành: Bộ Giao thông và Bưu điện
- Người ký: Nguyễn Hữu Mai
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 22
- Ngày hiệu lực: 11/06/1958
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
