Nghị định 24-CP năm 1960 do Hội đồng Chính phủ ban hành quy định về chế độ lương thuộc khu vực sản xuất nhằm thiết lập hệ thống thang lương, bảng lương mới đồng bộ cho công nhân, viên chức và cán bộ quản lý tại các xí nghiệp nhà nước.
Phạm vi áp dụng của Nghị định bao gồm toàn bộ công nhân, viên chức, cán bộ quản lý, nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ và lao động phổ thông làm việc tại các xí nghiệp quốc doanh, công trường, nông trường, lâm trường, ngư trường và các cơ sở mậu dịch thuộc khu vực sản xuất trực tiếp của Nhà nước.
Hệ thống thang lương và bảng lương áp dụng cho khu vực sản xuất
Nghị định phân chia hệ thống tiền lương thành các nhóm thang lương và bảng lương cụ thể cho từng đối tượng lao động như sau:
- Thang lương và bảng lương cho công nhân, nhân viên sản xuất: Gồm có 7 thang lương và 14 bảng lương khác nhau. Các thang lương được thiết kế từ 5 đến 7 bậc với hệ số chênh lệch giữa mức khởi điểm (bậc 1) và mức tối đa dao động từ 1 - 1,65 đến 1 - 2,50. Các bảng lương đặc thù áp dụng cho nhiều ngành nghề cụ thể bao gồm: lái xe ô tô vận tải hàng hóa, lái xe ô tô hành khách, lái xe ô tô con, lái máy kéo, thợ lặn, công nhân nông giang, công nhân lái xe hỏa, công nhân bảo quản và sửa chữa đường sắt, nhân viên nhà ga và nhân viên công tác trên xe hỏa, công nhân và nhân viên tàu thủy, công nhân tàu và thuyền đánh cá, thủy thủ và công nhân lái ca-nô kèm phà, công nhân và nhân viên ngành Bưu điện, nhân viên mậu dịch quốc doanh.
- Bảng lương chức vụ cho cán bộ quản lý xí nghiệp: Gồm 4 bảng lương riêng biệt dành cho cán bộ quản lý trong các lĩnh vực: xí nghiệp công nghiệp; xí nghiệp kiến thiết cơ bản; nông trường - lâm trường - ngư trường; và ngành Mậu dịch.
- Bảng lương chức vụ cho nhân viên kỹ thuật: Áp dụng một bảng lương chức vụ riêng cho các nhân viên kỹ thuật không giữ chức vụ lãnh đạo.
Nguyên tắc xác định mức lương khởi điểm và tiêu chuẩn kỹ thuật
- Căn cứ xác định mức lương khởi điểm (bậc 1): Được ấn định dựa trên trình độ phức tạp về mặt kỹ thuật, điều kiện lao động thực tế và tầm quan trọng của từng ngành, nghề trong nền kinh tế quốc dân. Đối với các công việc thực hiện trong môi trường có nhiệt độ quá cao, quá lạnh hoặc độc hại cho sức khỏe, mức lương sẽ được định cao hơn mức bình thường nhằm thay thế hoàn toàn cho các khoản phụ cấp hao mòn sức khỏe đã ban hành trước đó.
- Thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn kỹ thuật của công nhân, tiêu chuẩn công tác của nhân viên kỹ thuật và cán bộ quản lý xí nghiệp do các Bộ chủ quản xây dựng và ban hành sau khi đạt được sự thỏa thuận, thống nhất với Bộ Lao động.
Phân loại và xếp hạng xí nghiệp để thực hiện lương chức vụ
Để có cơ sở áp dụng lương chức vụ cho cán bộ quản lý, các xí nghiệp được phân chia thành các loại và hạng cụ thể dựa trên vị trí kinh tế, tính chất phức tạp kỹ thuật và tổng giá trị sản lượng:
- Xí nghiệp công nghiệp: Chia làm 3 loại bao gồm loại xí nghiệp khai khoáng; loại xí nghiệp cơ khí, điện, vật liệu xây dựng; và loại xí nghiệp công nghiệp nhẹ. Mỗi loại xí nghiệp này tiếp tục được phân thành 6 hạng khác nhau.
- Xí nghiệp kiến thiết cơ bản: Được phân chia thành 5 hạng.
- Nông trường, lâm trường, ngư trường: Được phân chia thành 4 hạng.
- Công ty và cửa hàng Mậu dịch: Được phân chia thành 4 hạng.
- Thẩm quyền xếp hạng: Các Bộ chủ quản chịu trách nhiệm quy định tiêu chuẩn cụ thể và tiến hành xếp hạng cho các xí nghiệp trực thuộc sau khi thỏa thuận với Bộ Lao động.
Hệ thống chức vụ trong xí nghiệp
Chức vụ của cán bộ quản lý và viên chức tại các xí nghiệp được phân định rõ ràng thành ba hệ thống chính:
- Hệ thống cán bộ quản lý xí nghiệp: Bao gồm các chức danh lãnh đạo như Giám đốc, Phó giám đốc, Trưởng phòng, Phó phòng, Quản đốc, Phó quản đốc phân xưởng, Trưởng ngành sản xuất hoặc các chức vụ tương đương.
- Hệ thống nhân viên kỹ thuật và nghiệp vụ (không giữ chức vụ lãnh đạo): Bao gồm kỹ sư, kỹ thuật viên, nhân viên giúp việc kỹ thuật, chuyên viên, cán sự, nhân viên kế hoạch, tài vụ, lao động tiền lương.
- Hệ thống nhân viên hành chính quản trị: Bao gồm các nhân viên làm công tác hành chính, quản trị và các nhân viên phục vụ khác trong xí nghiệp.
Nguyên tắc xác định mức lương chức vụ cụ thể
Việc quy định mức lương chức vụ cho cán bộ quản lý và viên chức phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc sau:
- Mức lương của cán bộ lãnh đạo nói chung phải cao hơn mức lương của người bị lãnh đạo trực tiếp trong cùng một đơn vị.
- Lương của cán bộ quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào việc phân loại, phân hạng xí nghiệp và lấy mức lương của trưởng ngành sản xuất (hoặc tương đương) làm căn cứ quy định.
- Mức lương của trưởng ngành sản xuất (hoặc tương đương) dựa trên lương của công nhân sản xuất trong ngành, nói chung cao hơn lương của công nhân có cấp bậc cao nhất trong đơn vị tối đa 10%, nhưng không được vượt quá lương của Phó quản đốc phân xưởng trực tiếp lãnh đạo.
- Mức lương của Quản đốc và Phó quản đốc phân xưởng phụ thuộc vào việc phân hạng phân xưởng, cao hơn lương Trưởng ngành sản xuất trong phân xưởng nhưng không được vượt quá lương của Phó giám đốc xí nghiệp đó.
- Mức lương của Quản đốc, Phó quản đốc phân xưởng và Trưởng ngành sản xuất trong mỗi xí nghiệp do Bộ chủ quản quy định. Đối với các xí nghiệp do địa phương quản lý thuộc diện cải tiến chế độ tiền lương năm 1960, Ủy ban hành chính các cấp sẽ quy định mức lương cho các cán bộ này.
- Mức lương cao nhất của Giám đốc xí nghiệp hạng 1 không được vượt quá mức lương của Phó cục trưởng cao nhất thuộc Cục Quản lý xí nghiệp đó.
- Đối với xí nghiệp không đủ tiêu chuẩn xếp hạng, lương cán bộ quản lý do Bộ chủ quản hoặc Ủy ban hành chính quy định tương đương mức lương Quản đốc, Phó quản đốc hoặc Trưởng ngành sản xuất của xí nghiệp cùng loại; mức cao nhất phải thấp hơn lương Giám đốc xí nghiệp hạng thấp nhất.
- Lương của nhân viên kỹ thuật không phụ thuộc vào hạng xí nghiệp mà phân biệt theo ngành: ngành công nghiệp nặng và tương đương (kiến thiết cơ bản, hàng không, đường sắt, đường thủy, lâm khu...) có mức lương cao hơn ngành công nghiệp nhẹ và tương đương (trồng trọt, chăn nuôi...).
- Lương của viên chức nghiệp vụ và hành chính quản trị áp dụng thống nhất theo mức lương của viên chức cùng loại tại các cơ quan Nhà nước, không phụ thuộc vào hạng xí nghiệp.
- Trường hợp đặc biệt xếp lương vượt mức quy định cho cán bộ lãnh đạo xí nghiệp phải do Bộ chủ quản đề nghị và được Bộ Lao động thông qua.
Chế độ lương đối với lao động mới tuyển dụng và lao động thời vụ
- Lao động mới tuyển dụng: Phải trải qua thời gian tạm tuyển là 06 tháng, trong thời gian này chỉ được hưởng 85% mức lương của bậc khởi điểm. Trường hợp chưa đạt tiêu chuẩn bậc 1 thì hưởng 85% mức lương bậc 1 của nghề đó, nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu là 27đ30.
- Công nhân kỹ thuật mới tuyển dụng: Thời gian tạm tuyển từ 03 đến 06 tháng, hưởng 85% mức lương cấp bậc của người trong biên chế có cùng vị trí công việc.
- Lao động phổ thông và thời vụ: Đối với lao động phổ thông làm việc dưới 06 tháng tại các công trường, nông trường và người lao động thuê mướn tạm thời theo thời vụ tại địa phương, mức lương sẽ do Ủy ban hành chính địa phương tự quy định dựa trên mức sống thực tế của nhân dân và giá công thuê mướn tại địa bàn.
Hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp
Nghị định 24-CP chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-05-1960. Nghị định này bãi bỏ Nghị định số 182-TTg ngày 07-04-1958 quy định về chế độ lương cho khu vực sản xuất, ngoại trừ các quy định tại Điều 10 và Điều 12 của Nghị định 182-TTg vẫn tiếp tục được giữ lại. Bộ Lao động chịu trách nhiệm hướng dẫn, giải thích và phối hợp với các Bộ quản lý ngành sản xuất cùng Ủy ban hành chính các địa phương để triển khai thực hiện thống nhất các quy định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 24-CP | Hà Nội, ngày 01 tháng 07 năm 1960 |
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trong kỳ họp ngày 26 và 27 tháng 04 năm 1960 về cải tiến chế độ lương và tăng lương năm 1960 đối với công nhân, viên chức, cán bộ;
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. – Công nhân, viên chức, cán bộ thuộc các xí nghiệp của Nhà nước được sắp xếp vào các thang lương và các bảng lương dưới đây: (1)
a) 7 thang lương và 14 bảng lương cho công nhân và nhân viên sản xuất:
- Về thang lương:
1. Thang lương 7 bậc với chênh lệch giữa khởi điểm và tối đa là: 1 – 2,50;
2. Thang lương 6 bậc với chênh lệch giữa khởi điểm và tối đa là: 1 – 2,40;
3. Thang lương 7 bậc với chênh lệch giữa khởi điểm và tối đa là: 1 – 2,20;
4. Thang lương 6 bậc với chênh lệch giữa khởi điểm và tối đa là: 1 – 2,10;
5. Thang lương 6 bậc với chênh lệch giữa khởi điểm và tối đa là: 1 – 1,90;
6. Thang lương 5 bậc với chênh lệch giữa khởi điểm và tối đa là: 1 – 1,80;
7. Thang lương 5 bậc với chênh lệch giữa khởi điểm và tối đa là: 1 – 1,65;
- Về bảng lương:
1. Bảng lương công nhân lái ô tô vận tải hàng hóa;
2. Bảng lương công nhân lái ôtô hàng khách;
3. Bảng lương công nhân lái ôtô con;
4. Bảng lương công nhân lái máy kéo;
5. Bảng lương thợ lặn;
6. Bảng lương công nhân nông giang;
7. Bảng lương công nhân lái xe hỏa;
8. Bảng lương công nhân bảo quản, đặt và sửa chữa đường sắt;
9. Bảng lương nhân viên nhà ga và nhân viên công tác trên xe hỏa;
10. Bảng lương công nhân và nhân viên tàu thủy;
11. Bảng lương công nhân tàu và thuyền đánh cá;
12. Bảng lương thủy thủ và công nhân lái ca-nô kèm phà;
13. Bảng lương công nhân và nhân viên ngành Bưu điện;
14. Bảng lương nhân viên mậu dịch quốc doanh .
b) Bốn bảng lương chức vụ cho cán bộ quản lý xí nghiệp:
1. Bảng lương chức vụ cán bộ quản lý xí nghiệp công nghiệp.
2. Bảng lương chức vụ cán bộ quản lý xí nghiệp kiến thiết cơ bản;
3. Bảng lương chức vụ cán bộ quản lý các nông trường, lâm trường, ngư trường:
4. Bảng lương chức vụ cán bộ quản lý ngành Mậu dịch.
c) Một bảng lương chức vụ cho nhân viên kỹ thuật không giữ chức vụ lãnh đạo.
a) Chia các xí nghiệp công nghiệp làm ba loại: loại xí nghiệp khai khoáng; loại xí nghiệp cơ khí, điện, vật liệu xây dựng; loại xí nghiệp công nghiệp nhẹ. Mỗi loại xí nghiệp này chi làm sáu hạng:
b) Chia các xí nghiệp kiến thiết cơ bản làm năm hạng;
c) Chia các nông trường, lâm trường, ngư trường làm bốn hạng;
d) Chia các Công ty và cửa hàng Mậu dịch làm bốn hạng.
Việc chia hạng đối với các xí nghiệp trên đây căn cứ vào các yếu tố: vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân; tính chất phức tạp của kỹ thuật (hoặc chuyên môn); tổng giá trị sản lượng.
Các Bộ chủ quản quy định tiêu chuẩn cụ thể và xếp hạng cho các xí nghiệp thuộc Bộ, sau khi thỏa thuận với Bộ Lao động.
Điều 5. – Chức vụ của cán bộ quản lý và viên chức các xí nghiệp gồm ba hệ thống:
a) Cán bộ quản lý xí nghiệp: Giám đốc, Phó giám đốc, Trưởng phòng, Phó phòng; Quản đốc, Phó quản đốc phân xưởng; Trưởng ngành sản xuất hoặc chức vụ tương đương.
b) Nhân viên kỹ thuật và nghiệp vụ (không giữ chức vụ lãnh đạo): kỹ sư, kỹ thuật viên, nhân viên giúp việc kỹ thuật; chuyên viên, cán sự, nhân viên kế hoạch, tài vụ, lao động tiền lương, v.v...
c) Nhân viên hành chính quản trị và nhân viên phục vụ khác trong xí nghiệp.
a) Mức lương của cán bộ lãnh đạo nói chung cao hơn mức lương của người bị lãnh đạo trực tiếp trong cùng một đơn vị.
b) Mức lương của cán bộ quản lý xí nghiệp phải tùy thuộc vào việc phân loại, phân hạng xí nghiệp và dựa trên mức lương của trưởng ngành sản xuất hoặc chức vụ tương đương để quy định.
c) Mức lương của trưởng ngành sản xuất hoặc chức vụ tương đương phải dựa trên mức lương của công nhân sản xuất trong mỗi ngành. Mức lương của trưởng ngành sản xuất hoặc chức vụ tương đương nói chung cao hơn mức lương của công nhân có cấp bậc cao nhất trong đơn vị đó, tối đa không quá 10%; nhưng mức lương của trưởng ngành cao nhất nói chung không được cao hơn mức lương của Phó quản đốc phân xưởng trực tiếp lãnh đạo.
d) Mức lương của Quản đốc và Phó quản đốc phân xưởng phải tùy thuộc vào việc phân hạng phân xưởng phải tùy thuộc các việc phân hạng phân xưởng và nói chung phải cao hơn mức lương của Trưởng ngành sản xuất trong phân xưởng, nhưng không cao hơn mức lương của Phó giám đốc xí nghiệp đó.
đ) Mức lương của Quản đốc, Phó quản đốc phân xưởng và Trưởng ngành sản xuất hoặc chức vụ tương đương trong mỗi xí nghiệp sẽ do Bộ chủ quản dựa vào những nguyên tắc nói ở điểm a, b, c, d, mà quy định. Ủy ban hành chính các cấp sẽ quy định mức lương cho các cán bộ này trong các xí nghiệp thuộc diện thi hành cải tiến chế độ tiền lương và tăng lương năm 1960 do địa phương quản lý.
c) Mức lương cao nhất của Giám đốc xí nghiệp hạng 1 nói chung không được cao hơn mức lương của Phó cục trưởng cao nhất của Cục Quản lý xí nghiệp đó.
g) Mức lương của cán bộ quản lý các xí nghiệp không đủ tiêu chuẩn xếp vào hạng, thì do các Bộ chủ quản hoặc các Ủy ban hành chính quy định tương đương với mức lương của Quản đốc, Phó quản đốc hoặc Trưởng ngành sản xuất của xí nghiệp cùng loại; nhưng mức lương cao nhất của cán bộ quản lý xí nghiệp này phải thấp hơn mức lương của Giám đốc xí nghiệp ở hạng thấp nhất.
h) Mức lương của nhân viên kỹ thuật không giữ chức vụ lãnh đạo không tùy thuộc vào việc phân hạng xí nghiệp mà chỉ phân biệt như sau: mức lương nhân viên kỹ thuật thuộc ngành Công nghiệp nặng và các ngành tương đương như kiến thiết cơ bản, hàng không, đường sắt, đường thủy, lâm khẩu, v.v... cao hơn mức lương của nhân viên kỹ thuật thuộc ngành Công nghiệp nhẹ và các ngành tương đương như: trồng trọt, chăn nuôi, v.v...
i) Mức lương của viên chức làm công tác nghiệp vụ và hành chính quản trị ở xí nghiệp không tùy thuộc vào việc phân hạng xí nghiệp mà áp dụng thống nhất theo các mức lương quy định cho những viên chức cùng loại công tác ở các cơ quan Nhà nước.
k) Trường hợp phải xếp lương cho cán bộ lãnh đạo xí nghiệp vượt mức lương quy định cho các loại, hạng xí nghiệp, thì Bộ chủ quản đề nghị, Bộ Lao động thông qua.
Đối với những người chưa đạt tiêu chuẩn bậc 1, thì chỉ được hưởng 85% mức lương bậc 1 của tháng lương hoặc bảng lương của nghề đó, nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu 27đ30.
Công nhân kỹ thuật mới được tuyển dụng vào các xí nghiệp cũng phải qua thời gian tạm tuyển từ 03 đến 06 tháng. Trong thời gian này chỉ được hưởng 85% mức lương cấp bậc của người trong biên chế cùng việc làm như mình.
| T.M. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ |
______________________
(1) Các thang lương và bảng lương của công nhân, viên chức, cán bộ ở các loại xí nghiệp ban hành kèm theo nghị định này không đăng trong Công báo.
- 1Nghị định 182-TTg năm 1958 quy định chế độ lương cho khu vực sản xuất do Thủ tướng Chính Phủ ban hành
- 2Thông tư 25-LĐ/TT năm 1960 hướng dẫn thi hành các mức tiền công địa phương do Bộ Lao Động ban hành.
- 3Thông tư 15-LĐ/TT-1974 hướng dẫn thi hành thống nhất thang lương và phụ cấp 10% cho công nhân ngành sản xuất vật liệu xây dựng do Bộ Lao động ban hành
- 4Bộ luật Lao động 1994
Nghị định 24-CP năm 1960 quy định chế độ lương thuộc khu vực sản xuất do Hội Đồng Chính Phủ ban hành
- Số hiệu: 24-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 01/07/1960
- Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Người ký: Phạm Văn Đồng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 36
- Ngày hiệu lực: 01/05/1960
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
