Nghị định 10-HĐBT được ban hành năm 1982 bởi Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết về việc phân loại đầu tư vốn và phân cấp quản lý các hệ thống đường bộ trên phạm vi cả nước. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc tổ chức, phân định rõ ràng trách nhiệm quản lý nhà nước và nguồn vốn đầu tư đối với từng cấp đường bộ tại Việt Nam trong giai đoạn đầu thập niên 80.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định áp dụng đối với toàn bộ hệ thống đường bộ trong cả nước, bao gồm cả đường xe cơ giới và đường xe thô sơ, được xác định là tài sản xã hội chủ nghĩa. Đối tượng chịu sự điều chỉnh và có trách nhiệm thi hành bao gồm Bộ Giao thông vận tải, Ủy ban nhân dân các cấp, các ngành, các đơn vị kinh tế, quốc phòng và mọi công dân trong việc bảo vệ, giữ gìn hệ thống giao thông đường bộ và chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ quản lý giao thông vận tải.
Phân loại hệ thống đường bộ toàn quốc
Hệ thống đường bộ nước ta được phân chia cụ thể thành 6 hệ thống chính với các ký hiệu và tính chất đặc trưng như sau:
- Hệ thống đường quốc lộ (ký hiệu QL): Là các trục lộ chính của mạng lưới đường bộ toàn quốc, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phục vụ lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa và quốc phòng. Tuyến đường này kết nối Thủ đô với các trung tâm hành chính cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đặc khu, các đầu mối giao thông trọng điểm quốc gia hoặc kết nối trực tiếp với các nước láng giềng.
- Hệ thống đường tỉnh, thành phố, đặc khu (gọi tắt là đường tỉnh, ký hiệu ĐT): Là các trục đường chính nằm trong phạm vi một tỉnh hoặc kết nối liên tỉnh, nối liền tỉnh với các đầu mối giao thông quan trọng khác nhằm phục vụ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa và bảo đảm trị an của địa phương.
- Hệ thống đường huyện (ký hiệu ĐH): Là các tuyến đường chính nằm trong phạm vi một huyện hoặc kết nối giữa các huyện liền kề, phục vụ chủ yếu cho nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và an ninh trật tự của huyện.
- Hệ thống đường xã (ký hiệu ĐX): Là các tuyến đường nội bộ xã hoặc nối liền các xã lân cận, đường dẫn ra đồng ruộng, khu sản xuất hoặc kết nối vào các hệ thống đường lớn hơn, phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất nông nghiệp và đời sống dân sinh tại địa phương.
- Hệ thống đường đô thị (ký hiệu ĐĐT): Bao gồm toàn bộ các loại đường phố và đường giao thông (ngoại trừ các đoạn quốc lộ đi qua) nằm trong phạm vi nội thành, nội thị của các thành phố, thị xã, thị trấn. Tiêu chuẩn phân loại chi tiết đường đô thị do Bộ Giao thông vận tải phối hợp với Bộ Xây dựng và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thống nhất ban hành.
- Hệ thống đường chuyên dùng (ký hiệu CD): Là các tuyến đường phục vụ riêng cho nhu cầu vận chuyển chuyên biệt của một hoặc nhiều cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông lâm trường, khu kinh tế mới, vùng định canh định cư, cơ sở quốc phòng, ga tàu, bến cảng, kho bãi hoặc đường nội bộ của các đơn vị.
Thẩm quyền phân loại và điều chỉnh các loại đường
Nghị định phân định rõ thẩm quyền quyết định phân loại và điều chỉnh các tuyến đường bộ theo các cấp quản lý:
- Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải có thẩm quyền quyết định đối với hệ thống đường quốc lộ.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định đối với hệ thống đường tỉnh, đường đô thị và đường chuyên dùng trên địa bàn.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền quyết định đối với hệ thống đường huyện và đường xã.
Nguyên tắc chung về vốn quản lý và sửa chữa đường bộ
Nguồn vốn dành cho công tác quản lý và sửa chữa đường bộ (bao gồm sửa chữa lớn, sửa chữa vừa và sửa chữa thường xuyên) được phân bổ dựa trên định mức và kế hoạch cụ thể của từng tuyến đường. Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm cân đối đối với hệ thống quốc lộ, trong khi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm đối với đường tỉnh, đường đô thị và các loại đường địa phương khác. Nhà nước thực hiện cân đối toàn diện về lao động, vật tư và thiết bị cho công tác này. Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Giao thông vận tải ban hành quy định chi tiết về chế độ cấp phát vốn phù hợp với phân cấp quản lý.
Quy định chi tiết về đầu tư vốn và phân cấp quản lý từng hệ thống đường
Nghị định thiết lập cơ chế đầu tư và quản lý riêng biệt cho từng loại đường nhằm tối ưu hóa hiệu quả khai thác và bảo trì:
- Đối với hệ thống đường quốc lộ: Toàn bộ vốn đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý và sửa chữa do Ngân sách Trung ương bảo đảm. Bộ Giao thông vận tải trực tiếp sử dụng nguồn kinh phí này để tổ chức thực hiện theo kế hoạch nhà nước, đồng thời xây dựng quy hoạch, kế hoạch làm mới, sửa chữa và phân bổ vốn cho các địa phương thực hiện. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp sửa chữa, xây dựng và bảo vệ an toàn giao thông đối với các đoạn quốc lộ đi qua địa bàn theo chỉ tiêu và nguồn vốn được phân bổ.
- Đối với hệ thống đường tỉnh: Do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp quản lý thông qua sự tham mưu của các Sở, Ty Giao thông vận tải. Ngân sách cấp tỉnh chịu trách nhiệm đài thọ toàn bộ chi phí xây dựng, quản lý và sửa chữa. Trường hợp địa phương gặp khó khăn về ngân sách, Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo Hội đồng Bộ trưởng xem xét trợ cấp sau khi có ý kiến đồng thuận từ Bộ Giao thông vận tải. Kế hoạch hàng năm phải được Hội đồng Bộ trưởng phê chuẩn.
- Đối với hệ thống đường huyện: Do cơ quan giao thông cấp huyện trực tiếp quản lý. Toàn bộ nguồn vốn đầu tư, sửa chữa do ngân sách địa phương tự đài thọ. Kế hoạch quản lý, xây dựng hàng năm của huyện phải thông qua các Sở, Ty Giao thông vận tải để trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xét duyệt.
- Đối với hệ thống đường xã: Thực hiện theo phương châm tự làm, tự quản lý là chính. Xã tự đầu tư vốn và nhân công để thực hiện các công tác xây dựng, sửa chữa trong phạm vi địa bàn. Trong trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc cấp tỉnh sẽ hỗ trợ một phần vốn, vật tư, thiết bị và giao cơ quan chuyên môn hướng dẫn kỹ thuật. Ủy ban nhân dân xã phải phân công một ủy viên chuyên trách phụ trách công tác giao thông vận tải.
- Đối với hệ thống đường đô thị: Ngân sách địa phương chịu trách nhiệm đài thọ toàn bộ chi phí đầu tư, sửa chữa. Đối với các tuyến đường phố chính tại các thành phố lớn có chi phí vượt quá khả năng cân đối của địa phương, Ủy ban nhân dân thành phố được phép đề nghị Hội đồng Bộ trưởng hỗ trợ kinh phí. Trách nhiệm quản lý cụ thể được phân định rõ giữa hai ngành: Ngành giao thông vận tải quản lý, khai thác, sửa chữa và xây dựng nền đường, mặt đường, cầu, hệ thống biển báo, cọc tiêu; Ngành xây dựng quản lý hè phố, bó vỉa, hệ thống chiếu sáng công cộng, cấp thoát nước và cây xanh đô thị. Các cơ quan khi thi công công trình liên quan đến đường đô thị bắt buộc phải có sự đồng ý của Sở, Ty Giao thông vận tải địa phương.
- Đối với hệ thống đường chuyên dùng: Về nguồn vốn, nếu đường do một đơn vị sử dụng thì đơn vị đó tự đài thọ; nếu nhiều đơn vị cùng sử dụng thì các bên cùng phối hợp đóng góp kinh phí (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức phân bổ cụ thể). Về quản lý, đơn vị sử dụng tự chịu trách nhiệm bảo trì, sửa chữa; trường hợp cần thiết có thể đề nghị cơ quan giao thông nhà nước đảm nhận hoặc chuyển thành đường địa phương nếu có nhiều đơn vị cùng sử dụng chung. Tất cả các tuyến đường chuyên dùng bắt buộc phải đăng ký hồ sơ quản lý với Sở, Ty Giao thông vận tải địa phương theo quy định của Bộ Giao thông vận tải.
Tổ chức thực hiện và hiệu lực thi hành
Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Ủy ban Xây dựng cơ bản Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan hướng dẫn chi tiết việc thi hành Nghị định này. Thủ trưởng các Bộ, Ủy ban Nhà nước, các cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc các quy định.
Nghị định 10-HĐBT có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành năm 1982. Nghị định này chính thức bãi bỏ Nghị định số 82-CP ngày 1 tháng 8 năm 1962 của Hội đồng Chính phủ cùng tất cả các quy định trước đây trái với tinh thần của Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 10-HĐBT | Hà Nội, ngày 20 tháng 1 năm 1982 |
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4 tháng 7 năm 1981;
Căn cứ Nghị định số 35-CP ngày 9 tháng 2 năm 1981;
Căn cứ Quyết định số 158-CP ngày 4 tháng 7 năm 1974;
Để quản lý chặt chẽ công tác xây dựng và sửa chữa hệ thống đường bộ nhằm phát triển và củng cố mạng lưới giao thông đáp ứng ngày càng cao nhu cầu phát triển kinh tế, phục vụ đời sống nhân dân và củng cố quốc phòng;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,
NGHỊ ĐỊNH :
Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ hệ thống đường bộ trong cả nước.
Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý hệ thống đường bộ ở địa phương theo sự phân cấp quản lý của Nhà nước.
Các ngành, các cấp, các đơn vị kinh tế, quốc phòng và mọi công dân đều có trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn hệ thống giao thông đường bộ và chấp hành nghiêm chỉnh các luật lệ về quản lý giao thông vận tải.
Điều 2- Đường bộ được chia thành 6 hệ thống như sau:
1. Hệ thống đường quốc lộ ký hiệu QL.
Là những đường trục chính của mạng lưới đường toàn quốc có tác dụng đặc biệt quan trọng phục vụ lợi ích kinh tế, chính trị, văn hoá và quốc phòng; nối liền Thủ đô với trung tâm hành chính các tỉnh, thành phố, đặc khu, với các đầu mối giao thông trọng yếu của Nhà nước, với các nước làng giềng hoặc là những đường nối liền các trung tâm, các đầu mối đó với nhau.
2. Hệ thống đường tỉnh, thành phố, đặc khu (sau đây gọi tắt là tỉnh, ký hiệu ĐT).
Là đường trục chính nằm trong phạm vi tỉnh hoặc nối liền giữa tỉnh này với tỉnh khác; giữa tỉnh với các đầu mối quan trọng khác có tác dụng phục vụ lợi ích về kinh tế, chính trị, văn hoá và trị an của tỉnh.
3. Hệ thống đường huyện (ký hiệu ĐH)
Là đường chính nằm trong một huyện hoặc nối sang huyện khác có tác dụng phục vụ chủ yếu cho nhu cầu kinh tế, chính trị, văn hoá và trị an của huyện
4. Hệ thống đường xã (ký hiệu ĐX)
Là đường nằm trong phạm vi một xã hoặc đường nối liền với xã lân cận, đường dẫn ra đồng ruộng hoặc ra các hệ thống đường khác có tác dụng phục vụ chủ yếu cho nhu cầu sản xuất và các lợi ích công cộng của xã.
5. Hệ thống đường đô thị (ký hiệu ĐĐT)
Bao gồm tất cả các loại đường phố và đường giao thông (trừ các quốc lộ) nằm trong phạm vi nội thành, nội thị theo địa giới hành chính của thành phố, thị xã, thị trấn.
Hệ thống đường đô thị được chia thành nhiều loại, tuỳ theo tính chất và công dụng của mỗi loại đường. Bộ Giao thông vận tải, Bộ Xây dựng cùng với Uỷ ban nhân dân tỉnh thống nhất quy định tiêu chuẩn phân loại này:
6. Hệ thống đường chuyên dùng (ký hiệu CD)
Là những đường chuyên phục vụ cho nhu cầu vận chuyển của một hoặc nhiều cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông, lâm trường; đường ra, vào các khu kinh tế mới, các vùng định canh định cư, các cơ sở quốc phòng, các ga tàu, bến cảng, kho bãi và đường nội bộ trong từng cơ quan, xí nghiệp, nhà máy, trường học...
Điều 3- Thẩm quyền phân loại và điều chỉnh các loại đường được quy định như sau:
- Hệ thống đường quốc lộ do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ra quyết định.
- Các hệ thống đường tỉnh, đường đô thị, đường chuyên dùng do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết định.
-Các hệ thống đường huyện, xã do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện ra quyết định.
Vốn quản lý và sửa chữa đường được Nhà nước cân đối toàn diện về các mặt lao động, vật tư và thiết bị.
Điều 5- Việc đầu tư vốn và quản lý hệ thống đường quốc lộ.
Toàn bộ vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn quản lý và sửa chữa hệ thống đường quốc lộ do Ngân sách Trung ương đài thọ.
Bộ Giao thông vận tải được sử dụng toàn bộ kinh phí này để tổ chức quản lý, sửa chữa và xây dựng hệ thống đường quốc lộ theo kế hoạch Nhà nước.
Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm xây dựng quy hoạch, kế hoạch làm mới, kế hoạch sửa chữa toàn bộ hệ thống đường quốc lộ; phân bổ vốn cho các địa phương thực hiện việc quản lý và sửa chữa; kiểm tra việc cấp phát và sử dụng vốn quản lý và sửa chữa của các tỉnh và các đơn vị thuộc Bộ.
Uỷ ban nhân dân các tỉnh có đoạn đường quốc lộ đi qua có chịu trách nhiệm sửa chữa, xây dựng và bảo vệ an toàn giao thông theo chỉ tiêu kế hoạch và vốn do Bộ Giao thông vận tải phân bổ.
Điều 6- Việc quản lý và đầu tư vốn cho hệ thống đường tỉnh.
Hệ thống đường tỉnh do Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý; các Sở, Ty giao thông vận tải có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện điều này.
Hàng năm Uỷ ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm lập kế hoạch quản lý sửa chữa và xây dựng hệ thống đường tỉnh trình Hội đồng Bộ Trưởng phê chuẩn sau khi có ý kiến của Bộ giao thông vận tải.
Toàn bộ vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn quản lý và sửa chữa đường tỉnh do ngân sách tỉnh đài thọ, trường hợp ngân sách địa phương có khó khăn thì Uỷ ban nhân dân tỉnh đề nghị Hội đồng Bộ Trưởng trợ cấp thêm kinh phí sau khi có ý kiến của Bộ giao thông vận tải.
Điều 7- Việc đầu tư vốn và quản lý hệ thống đường huyện.
Toàn bộ vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn quản lý và sửa chữa đường huyện do ngân sách địa phương đài thọ.
Cơ quan giao thông của huyện chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý hệ thống đường huyện.
Hàng năm, Uỷ ban nhân dân các huyện lập kế hoạch quản lý, sửa chữa và xây dựng thông qua các Sở, Ty giao thông vận tải trình Uỷ ban nhân dân tỉnh xét duyệt.
Điều 8- Việc đầu tư vốn và quản lý hệ thống đường xã.
Toàn bộ công tác quản lý, sửa chữa và xây dựng đường thuộc phạm vi xã nào do xã đó đầu tư vốn tự làm, tự quản lý là chính, trường hợp cần thiết Uỷ ban nhân dân huyện hoặc tỉnh sẽ hỗ trợ một phần vốn, vật tư, thiết bị và được cơ quan giao thông vận tải huyện hoặc Sở, Ty giao thông vận tải hướng dẫn kỹ thuật.
Uỷ ban nhân dân xã cần phân công một uỷ viên làm công tác giao thông vận tải.
Điều 9- Việc đầu tư vốn và quản lý hệ thống đường đô thị.
Toàn bộ vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn quản lý và sửa chữa đường đô thị do ngân sách địa phương đài thọ.
Đối với một số đường phố chính thuộc các thành phố lớn nếu ngân sách địa phương không đủ đài thọ thì Uỷ ban nhân dân thành phố đề nghị Hội đồng Bộ trưởng trợ cấp thêm.
Trách nhiệm quản lý đường đô thị được quy định như sau:
a) Ngành giao thông vận tải.
Quản lý, khai thác, sửa chữa, cải tạo và xây dựng các công trình cầu đường bao gồm nền và mặt đường (kể cả đường xe điện nếu có), cầu và hệ thống cọc tiêu, biển báo hiệu đường bộ.
b) Ngành xây dựng:
Quản lý, khai thác, sửa chữa, cải tạo và xây dựng các công trình đô thị như hè phố (kể cả bó vỉa), điện chiếu sáng công cộng; hệ thống cấp, thoát nước, trồng cây dọc đường.
Hàng năm Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch quản lý, khai thác, sửa chữa, cải tạo và xây dựng hệ thống đường đô thị trình Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt sau khi có ý kiến của các ngành có liên quan.
Các cơ quan khi sửa chữa, cải tạo hoặc xây dựng các công trình có liên quan đến các công trình thuộc đường đô thị phải được sự đồng ý của Sở,Ty giao thông vận tải địa phương.
Bộ Giao thông vận tải và Bộ Xây dựng quy định nhiệm vụ cụ thể và hướng dẫn thực hiện các quy định về quản lý đường đô thị.
Điều 10- Việc đầu tư và quản lý hệ thống đường chuyên dùng.
a. Việc đầu tư vốn:
- Nếu đường chuyên dùng thuộc một cơ quan hoặc xí nghiệp sử dụng thì vốn này do cơ quan, xí nghiệp đó đài thọ.
- Nếu đường đó thuộc nhiều cơ quan, xí nghiệp sử dụng thì vốn nay do các cơ quan, xí nghiệp đó đài thọ.
- Nếu là đường ban đầu do một cơ quan hoặc xí nghiệp sử dụng, sau một thời gian lại có thêm một số cơ quan, xí nghiệp khác cùng sử dụng thì vốn về xây dựng do cơ quan, xí nghiệp dùng đường lúc đầu đài thọ, còn vốn đầu tư để nâng cấp mở rộng sửa chữa và quản lý do các cơ quan, xí nghiệp cùng sử dụng đường đài thọ.
Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định mức phân bổ kinh phí cho các cơ quan, xí nghiệp chịu trách nhiệm đài thọ theo đề nghị của các Sở, Ty giao thông vận tải.
b) Việc quản lý:
- Việc quản lý, sửa chữa và xây dựng đường chuyên dùng thuộc một cơ quan, xí nghiệp sử dụng do cơ quan, xí nghiệp đó chịu trách nhiệm, trường hợp cần thiết cơ quan, xí nghiệp chủ quản đề nghị với Bộ Giao thông vận tải hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh xét giao cho các đơn vị trực thuộc trung ương ( Bộ giao thông vận tải) hoặc các Sở, Ty giao thông vận tải địa phương đảm nhận.
- Việc quản lý sửa chữa và xây dựng đường chuyên dùng thuộc nhiều cơ quan, xí nghiệp sử dụng sẽ do cơ quan giao thông vận tải địa phương đảm nhận và nếu cần thiết có thể chuyển thành đường địa phương.
- Ngành giao thông vận tải có trách nhiệm tham gia ý kiến về các tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng đường chuyên dùng để bảo đảm an toàn giao thông và phù hợp với quy hoạch phát triển mạng lưới giao thông ở địa phương.
- Các đường chuyên dùng phải đăng ký hồ sơ đường sá với Sở, Ty giao thông vận tải, hồ sơ và thủ tục đăng ký do Bộ giao thông vận tải quy định.
|
| Tố Hữu (Đã ký) |
- 1Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng 1981
- 2Nghị định 35-CP năm 1981 Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Bộ trưởng và chức năng của Bộ trưởng trong một số lĩnh vực quản lý Nhà nước do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 3Thông tư 03--BTC-BGTV/TT năm 1993 hướng dẫn chế độ quản lý, cấp phát, thanh quyết toán vốn sửa chữa lớn cầu đường bộ do Bộ Tài chinh- Bộ Giao thông vận tải ban hành
- 4Thông tư liên tich 73-TTLB/GTXD năm 1984 hướng dẫn đầu tư vốn và quản lý hệ thống đường đô thị do Bộ giao thông vận tải-Bộ xây dựng ban hành
- 5Thông tư 147-TT/GTVT-1983 hướng dẫn thi hành Nghị định 10-HĐBT 1982 quy định việc phân loại đầu tư vốn và phân cấp quản lý các hệ thống đường bộ do Bộ giao thông vận tải ban hành
Nghị định 10-HĐBT năm 1982 quy định việc phân loại đầu tư vốn và phân cấp quản lý các hệ thống đường bộ do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- Số hiệu: 10-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 20/01/1982
- Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Người ký: Tố Hữu
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 3
- Ngày hiệu lực: 20/01/1982
- Ngày hết hiệu lực: 04/07/1991
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
