Luật tổ chức Toà án nhân dân sửa đổi 1995 được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân hiện hành, tập trung vào việc cải cách tổ chức bộ máy và bổ sung thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính, lao động, kinh tế của hệ thống Tòa án nhân dân. Văn bản này áp dụng đối với hệ thống Tòa án nhân dân các cấp, các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động tố tụng và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan trong phạm vi cả nước.
Chức năng, nhiệm vụ và nguyên tắc hoạt động cơ bản của Tòa án
- Xác định cơ quan xét xử và phạm vi xét xử: Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử duy nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Phạm vi xét xử được mở rộng bao gồm các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật.
- Nhiệm vụ trọng tâm: Bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Qua đó, giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật và nâng cao ý thức đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
- Nguyên tắc bình đẳng trong xét xử: Khẳng định nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần hay địa vị xã hội. Đồng thời, mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang và các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật khi tham gia tố tụng.
Cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao
- Cơ cấu tổ chức bộ máy: Gồm có Hội đồng Thẩm phán, Uỷ ban Thẩm phán, Toà án quân sự trung ương, Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính, các Toà phúc thẩm và bộ máy giúp việc. Trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có quyền quyết định thành lập các Toà chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
- Nhân sự tại các tòa chuyên trách: Các tòa chuyên trách (Hình sự, Dân sự, Kinh tế, Lao động, Hành chính) bao gồm Chánh toà, các Phó Chánh toà, Thẩm phán và Thư ký Toà án.
- Thẩm quyền của các tòa chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân tối cao:
- Toà hình sự, Toà dân sự, Toà hành chính: Thực hiện xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm những vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng; thực hiện giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị.
- Toà kinh tế, Toà lao động: Chuyên trách thực hiện giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định.
- Thẩm quyền của các Tòa phúc thẩm thuộc Tòa án nhân dân tối cao:
- Xét xử phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị.
- Giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của Toà án nhân dân cấp tỉnh về việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
- Giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của Toà án nhân dân cấp tỉnh về việc giải quyết các cuộc đình công.
Cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
- Cơ cấu tổ chức bộ máy: Gồm có Uỷ ban Thẩm phán, Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính và bộ máy giúp việc. Ủy ban thường vụ Quốc hội có thể thành lập các Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sau khi thống nhất ý kiến với Chánh án Toà án nhân dân tối cao. Nhân sự tại các tòa chuyên trách này cũng bao gồm Chánh toà, Phó Chánh toà, các Thẩm phán và Thư ký Toà án.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của các tòa chuyên trách cấp tỉnh:
- Toà hình sự, Toà dân sự, Toà hành chính: Xét xử sơ thẩm các vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng; xét xử phúc thẩm các vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị.
- Toà kinh tế: Xét xử sơ thẩm các vụ án kinh tế; xét xử phúc thẩm các vụ án kinh tế của Tòa án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị; giải quyết việc phá sản doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
- Toà lao động: Xét xử sơ thẩm các vụ án lao động; xét xử phúc thẩm các vụ án lao động của Tòa án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị; giải quyết các cuộc đình công theo quy định của pháp luật.
Hiệu lực thi hành và hướng dẫn thực hiện
- Thời điểm có hiệu lực: Luật này chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 1996.
- Bãi bỏ quy định cũ: Tất cả các quy định trước đây trái với Luật này đều bị bãi bỏ.
- Trách nhiệm hướng dẫn thi hành: Chính phủ và Toà án nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành chi tiết Luật này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 43-L/CTN | Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 1995 |
LUẬT
SỐ 43-L/CTN NGÀY 28/10/1995 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TỔ CHỨC TOÀ ÁN NHÂN DÂN
Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 6 tháng 10 năm 1992 và sửa đổi, bổ sung ngày 28 tháng 12 năm 1993.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân như sau:
"Điều 1
Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là các cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Toà án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật.
Trong phạm vi chức năng của mình, Toà án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.
Bằng hoạt động của mình, Toà án góp phần giáo dụng công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, các vi phạm pháp luật khác".
"Điều 8
Toà án xét xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội; cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang và các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật".
3. Khoản 2 Điều 17 được bổ sung:
"2 - Cơ cấu tổ chức của Toà án nhân dân tối cáo gồm:
- Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
- Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
- Toà án quân sự trung ương, Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính và các Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập các Toà chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao;
- Bộ máy giúp việc".
"Điều 23
1. Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính Toà án nhân dân tối cao có Chánh toà, các Phó Chánh toà, Thẩm phán, Thư ký Toà án.
2. Toà hình sự, Toà dân sự, Toà hành chính Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Sơ thẩm đồng thời chung thẩm những vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng;
- Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng;
3. Toà kinh tế, Toà lao động Toà án nhân dân tối cao giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng".
5. Khoản 2 Điều 24 được bổ sung:
"2 - Các Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng;
- Giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo quy định của pháp luật;
- Giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc giải quyết các cuộc đình công theo quy định của pháp luật".
6. Khoản 1 Điều 27 được bổ sung:
"1 - Cơ cấu tổ chức của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm:
- Uỷ ban Thẩm phán;
- Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính; trong trường hợp cần thiết Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập các Toà chuyên trách khác theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ tư pháp sau khi thống nhất ý kiến với Chánh án Toà án nhân dân tối cao;
- Bộ máy giúp việc".
"1 - Các Toà chuyên trách của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Chánh toà, Phó Chánh toà, các Thẩm phán, Thư ký Toà án.
2 - Toà hình sự, Toà dân sự, Toà hành chính của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ quyền hạn sau đây:
- Sơ thẩm những vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng;
- Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng.
3 - Toà kinh tế Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Sơ thẩm những vụ án kinh tế theo quy định của pháp luật tố tụng;
- Phúc thẩm những vụ án kinh tế mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng;
- Giải quyết việc phá sản doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
4 - Toà lao động Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Sơ thẩm những vụ án lao động theo quy định của pháp luật tố tụng;
- Phúc thẩm những vụ án lao động mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng;
- Giải quyết các cuộc đình công theo quy định của pháp luật".
Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 1996.
Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.
Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao trong phạm vị chức năng của mình hướng dẫn thi hành Luật này.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 28 tháng 10 năm 1995.
| Nông Đức Mạnh (Đã ký) |
- 1Thông tư liên ngành 01/2004/TTLT/TANDTC-UBTWMTTQVN về việc chuẩn bị nhân sự và giới thiệu bầu hội thẩm tòa án nhân dân do Tòa án nhân dân Tối cao- Ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc Việt nam ban hành
- 2Nghị quyết số 272/2001/NQ-UBTVQH10 về trang phục đối với Hội thẩm Toà án nhân dân do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành
- 3Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2002
- 1Thông tư liên ngành 01/2004/TTLT/TANDTC-UBTWMTTQVN về việc chuẩn bị nhân sự và giới thiệu bầu hội thẩm tòa án nhân dân do Tòa án nhân dân Tối cao- Ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc Việt nam ban hành
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Nghị quyết số 272/2001/NQ-UBTVQH10 về trang phục đối với Hội thẩm Toà án nhân dân do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành
Luật tổ chức Toà án nhân dân sửa đổi 1995
- Số hiệu: 43-L/CTN
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 28/10/1995
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Nông Đức Mạnh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 1
- Ngày hiệu lực: 01/07/1996
- Ngày hết hiệu lực: 12/04/2002
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
