Luật Tổ chức Toà án nhân dân sửa đổi 1993 được Quốc hội ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Toà án nhân dân hiện hành, tập trung vào việc cải cách cơ cấu tổ chức, phân định rõ thẩm quyền xét xử của các cấp Toà án, đồng thời bổ sung các quy định mới phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Phạm vi áp dụng của Luật bao gồm các quy định về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Toà án nhân dân tối cao và Toà án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đối tượng áp dụng trực tiếp là hệ thống Toà án nhân dân các cấp, các chức danh tư pháp như Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án, cùng các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trong hoạt động tố tụng.
Nhiệm vụ và các nguyên tắc hoạt động cơ bản của Toà án- Hệ thống cơ quan xét xử: Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là các cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Toà án thực hiện xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế và giải quyết các việc khác theo quy định.
- Nhiệm vụ trọng tâm: Bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Qua đó, giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật và phòng ngừa tội phạm.
- Nguyên tắc xét xử công khai: Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp đặc biệt cần xét xử kín để giữ gìn bí mật Nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc giữ bí mật của các đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ.
- Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật: Đảm bảo mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội. Đồng thời, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế cũng đều bình đẳng trước pháp luật.
Luật sửa đổi đã quy định chi tiết về cơ cấu tổ chức và phân định rõ ràng nhiệm vụ của từng bộ phận thuộc Toà án nhân dân tối cao:
- Cơ cấu tổ chức bộ máy: Gồm có Hội đồng Thẩm phán; Uỷ ban Thẩm phán; Toà án quân sự Trung ương, Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, các Toà phúc thẩm và bộ máy giúp việc. Trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể quyết định thành lập các Toà chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
- Nhiệm vụ của Hội đồng Thẩm phán: Giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Uỷ ban Thẩm phán bị kháng nghị; hướng dẫn các Toà án áp dụng thống nhất pháp luật; tổng kết kinh nghiệm xét xử và chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh để trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
- Nhiệm vụ của Uỷ ban Thẩm phán: Giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án có bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị; hướng dẫn các Toà án thực hiện nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán; thông qua báo cáo công tác của Chánh án để trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.
- Nhiệm vụ của các Toà chuyên trách (Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế): Toà hình sự và Toà dân sự thực hiện sơ thẩm đồng thời chung thẩm các vụ án theo quy định, cũng như giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị. Toà kinh tế thực hiện nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án kinh tế có bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị.
- Nhiệm vụ của các Toà phúc thẩm: Xét xử phúc thẩm các vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị; giải quyết khiếu nại đối với quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp của Toà án nhân dân cấp tỉnh.
- Thẩm quyền của Chánh án Toà án nhân dân tối cao: Báo cáo công tác trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà án cấp dưới.
Đối với cấp tỉnh, Luật bổ sung nhiều quy định mới nhằm nâng cao năng lực xét xử, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế:
- Cơ cấu tổ chức bộ máy: Gồm có Uỷ ban Thẩm phán; Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế và bộ máy giúp việc. Các Toà chuyên trách khác có thể được thành lập trong trường hợp cần thiết do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sau khi thống nhất ý kiến với Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
- Thẩm quyền chung: Sơ thẩm các vụ án theo quy định; phúc thẩm các vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị; giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án của Toà án cấp dưới bị kháng nghị; giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật.
- Nhiệm vụ của Uỷ ban Thẩm phán cấp tỉnh: Giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án của Toà án cấp dưới bị kháng nghị; bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật; tổng kết kinh nghiệm xét xử; thông qua báo cáo công tác của Chánh án để báo cáo trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và Toà án nhân dân tối cao.
- Nhiệm vụ của các Toà chuyên trách cấp tỉnh: Toà hình sự và Toà dân sự thực hiện xét xử sơ thẩm và phúc thẩm các vụ án theo quy định. Toà kinh tế thực hiện sơ thẩm và phúc thẩm các vụ án kinh tế, đồng thời trực tiếp giải quyết việc phá sản doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
- Nhiệm vụ và quyền hạn của Chánh án cấp tỉnh: Tổ chức công tác xét xử; chủ toạ các phiên họp của Uỷ ban Thẩm phán; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức vụ trong Toà án cấp mình (trừ Phó Chánh án và Thẩm phán); tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, Thẩm phán, Hội thẩm; báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và Toà án nhân dân tối cao.
Luật Tổ chức Toà án nhân dân sửa đổi 1993 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 1994. Tất cả các quy định trước đây trái với Luật này đều bị bãi bỏ. Chính phủ và Toà án nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm hướng dẫn thi hành chi tiết các điều khoản của Luật này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 29-L/CTN | Hà Nội, ngày 28 tháng 12 năm 1993 |
LUẬT
SỐ 29-L/CTN NGÀY 28/12/1993 CỦA QUỐC HỘI SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TỔ CHỨC TOÀ ÁN NHÂN DÂN
Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Toà án nhân dân được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 6 tháng 10 năm 1992.
Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Toà án nhân dân như sau :
"Điều 1
Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do Luật định là các cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Toà án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật.
Trong phạm vi chức năng của mình, Toà án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa ; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân ; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể ; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.
Bằng hoạt động của mình, Toà án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ Quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, các vi phạm pháp luật khác."
"Điều 7
Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp cần xét xử kín để giữ gìn bí mật Nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của các đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ."
"Điều 8
Toà án xét xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội ; các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật."
4- Khoản 2 Điều 17 được bổ sung:
"2. Cơ cấu tổ chức của Toà án nhân dân tối cao gồm:
- Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
- Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
- Toà án quân sự Trung ương, Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế và các Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập các Toà chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao ;
- Bộ máy giúp việc."
5- Điều 19 được bổ sung khoản 4:
"4. Giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật."
6- Khoản 1 Điều 21 được bổ sung:
"1. Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng;
- Hướng dẫn các Toà án áp dụng thống nhất pháp luật ;
- Tổng kết kinh nghiệm xét xử;
- Chuẩn bị dự án luật để trình Quốc hội, dự án pháp lệnh để trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội."
7- Khoản 3 Điều 22 được sửa đổi:
"3. Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng;
- Hướng dẫn các Toà án thực hiện nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
- Thông qua báo cáo của Chánh án Toà án nhân dân tối cao về công tác của Toà án để trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước."
"Điều 23
1. Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế Toà án nhân dân tối cao có Chánh Toà, các Phó Chánh toà, Thẩm phán, Thư ký Toà án.
2. Toà hình sự, Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Sơ thẩm đồng thời chung thẩm những vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng ;
- Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng;
3. Toà kinh tế Toà án nhân dân tối cao giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng."
9- Khoản 2 Điều 24 được sửa đổi, bổ sung:
"2. Các Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng;
- Giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo quy định của pháp luật."
10. Khoản 7 Điều 25 được sửa đổi:
7. Báo cáo công tác của các Toà án trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước;"
11- Khoản 2 Điều 26 được bổ sung:
"2. Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà án cấp dưới theo quy định của pháp luật tố tụng;"
12- Khoản 1 Điều 27 được bổ sung:
"1. Cơ cấu tổ chức của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gồm:
- Uỷ ban Thẩm phán;
- Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế ; trong trường hợp cần thiết Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập các Toà chuyên trách khác theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sau khi thống nhất ý kiến với Chánh án Toà án nhân dân tối cao;
- Bộ máy giúp việc".
"Điều 28
Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền:
1. Sơ thẩm những vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng;
2. Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng;
3. Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng ;
4. Giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật".
14- Khoản 2 Điều 29 được sửa đổi:
"2. Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới bị kháng nghị;
- Bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật tại Toà án cấp mình và các Toà án cấp dưới;
- Tổng kết kinh nghiệm xét xử;
- Thông qua báo cáo của Chánh án Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về công tác của các Toà án ở địa phương để báo cáo trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và với Toà án nhân dân tối cao".
15. Điều 30 được sửa đổi, bổ sung:
"Điều 30
1. Các Toà án chuyên trách của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Chánh toà, Phó Chánh toà, các Thẩm phán, Thư ký Toà án.
2. Toà hình sự, Toà dân sự Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Sơ thẩm những vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng;
- Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng;
3. Toà kinh tế Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Sơ thẩm những vụ án kinh tế theo quy định của pháp luật tố tụng;
- Phúc thẩm những vụ án kinh tế mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng;
- Giải quyết việc phá sản doanh nghiệp theo quy định của pháp luật".
16- Khoản 1 Điều 31 được sửa đổi:
"1. Chánh án Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ, quyền hạn say đây:
- Tổ chức công tác xét xử;
- Chủ toạ các phiên họp của Uỷ ban Thẩm phán;
- Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà án cấp dưới theo quy định của pháp luật tố tụng;
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Chánh Toà, Phó Chánh toà các Toà chuyên trách và các chức vụ khác trong Toà án cấp mình, trừ Phó Chánh án, Thẩm phán;
- Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho Thẩm phán, Hội thẩm và cán bộ Toà án cấp mình và cấp dưới;
- Báo cáo công tác của các Toà án địa phương trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và với Toà án nhân dân tối cao".
Điều 2: Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 1994.
Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.
Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng của mình hướng dẫn thi hành Luật này.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 28 tháng 12 năm 1993.
| Lê Đức Anh (Đã ký) |
- 1Thông tư liên ngành 01/2004/TTLT/TANDTC-UBTWMTTQVN về việc chuẩn bị nhân sự và giới thiệu bầu hội thẩm tòa án nhân dân do Tòa án nhân dân Tối cao- Ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc Việt nam ban hành
- 2Luật tổ chức Toà án nhân dân 1960
- 3Chỉ thị 136-TTg năm 1994 thực hiện Luật Tổ chức Toà án nhân dân Sửa đổi do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 4Nghị quyết về việc quy định một số điểm về việc thi hành Luật Tổ chức Toà án nhân dân do Quốc hội ban hành
- 5Nghị quyết số 272/2001/NQ-UBTVQH10 về trang phục đối với Hội thẩm Toà án nhân dân do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành
- 6Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2002
- 1Thông tư liên ngành 01/2004/TTLT/TANDTC-UBTWMTTQVN về việc chuẩn bị nhân sự và giới thiệu bầu hội thẩm tòa án nhân dân do Tòa án nhân dân Tối cao- Ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc Việt nam ban hành
- 2Luật tổ chức Toà án nhân dân 1960
- 3Hiến pháp năm 1992
- 4Chỉ thị 136-TTg năm 1994 thực hiện Luật Tổ chức Toà án nhân dân Sửa đổi do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 5Nghị quyết về việc quy định một số điểm về việc thi hành Luật Tổ chức Toà án nhân dân do Quốc hội ban hành
- 6Nghị quyết số 272/2001/NQ-UBTVQH10 về trang phục đối với Hội thẩm Toà án nhân dân do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành
Luật Tổ chức Toà án nhân dân sửa đổi 1993
- Số hiệu: 29-L/CTN
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 28/12/1993
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Lê Đức Anh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 4
- Ngày hiệu lực: 01/07/1994
- Ngày hết hiệu lực: 12/04/2002
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
