Thông tư 16-LĐTBXH/TT-1997 do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành hướng dẫn về chế độ thời giờ làm việc hàng ngày được rút ngắn đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ sức khỏe, sức lao động và an toàn cho người lao động làm việc trong môi trường có yếu tố nguy hiểm, độc hại vượt quá tiêu chuẩn cho phép.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thông tư quy định chi tiết về phạm vi áp dụng và các đối tượng được hưởng chế độ rút ngắn thời giờ làm việc:
- Áp dụng đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế, lực lượng vũ trang, các cơ quan ngoại giao và tổ chức quốc tế tại Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam.
- Đối tượng thụ hưởng là người lao động trực tiếp làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Y tế ban hành.
Nội dung cốt lõi về rút ngắn thời giờ làm việc (Điều 1 đến Điều 4)
Nội dung của Thông tư tập trung vào việc thiết lập, hướng dẫn và thực thi chế độ giảm giờ làm việc hàng ngày nhằm bảo vệ quyền lợi tối đa cho người lao động:
- Thời gian rút ngắn cụ thể: Người lao động làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được rút ngắn thời giờ làm việc hàng ngày từ 1 đến 2 giờ so với tiêu chuẩn làm việc bình thường (giảm xuống còn 6 giờ hoặc 7 giờ làm việc trong một ngày).
- Bảo toàn nguyên lương và quyền lợi: Mặc dù thời gian làm việc thực tế hàng ngày bị cắt giảm, người lao động vẫn được hưởng nguyên lương theo thang bảng lương, phụ cấp lương (nếu có) và các chế độ phúc lợi khác như một ngày làm việc tiêu chuẩn 8 giờ. Nghiêm cấm việc cắt giảm tiền lương hoặc phụ cấp của người lao động do việc rút ngắn giờ làm.
- Trách nhiệm của người sử dụng lao động: Người sử dụng lao động có nghĩa vụ rà soát, đối chiếu danh mục công việc thực tế tại đơn vị với danh mục công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do nhà nước ban hành để lập danh sách người lao động được hưởng chế độ và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
- Tổ chức sản xuất và lao động: Các đơn vị sử dụng lao động phải chủ động điều chỉnh quy trình công nghệ, sắp xếp lại ca kíp, định mức lao động phù hợp với thời giờ làm việc được rút ngắn, đảm bảo không gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe người lao động và an toàn sản xuất.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 16-LĐTBXH/TT-1997 có hiệu lực thi hành sau khi ban hành, là căn cứ pháp lý để các cơ quan thanh tra, kiểm tra lao động giám sát việc thực hiện chế độ bảo hộ lao động tại các doanh nghiệp và tổ chức trên phạm vi toàn quốc.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 16-LĐTBXH/TT | Hà Nội, ngày 23 tháng 4 năm 1997 |
Thi hành Nghị định số 195/CP ngày 31/12/1994 của Chính phủ "quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Bộ luật Lao động về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi", khoản 2 Điều 68 của Bộ luật Lao động; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn về thời giờ làm việc hàng ngày được rút ngắn đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm như sau:
I- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ÁP DỤNG
Thời giờ làm việc hàng ngày rút ngắn được áp dụng đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trong các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức sau:
- Các doanh nghiệp Nhà nước;
- Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác;
- Các tổ chức, cá nhân có sử dụng lao động để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh;
- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp;
- Các cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam;
- Các đơn vị sự nghiệp, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể nhân dân;
- Cơ quan hành chính, sự nghiệp;
- Các cơ quan, tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể nhân dân.
Riêng những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trong các doanh nghiệp đặc thù, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân và nhưng người làm các công việc có tính chất đặc biệt theo quy định tại Điều 80 của Bộ luật Lao động, Điều 12 của Nghị định số 195/CP ngày 31/12/1994 của Chính phủ thực hiện theo quy định riêng.
II- THỜI GIỜ LÀM VIỆC HÀNG NGÀY ĐƯỢC RÚT NGẮN
1. Thời giờ làm việc hàng ngày được rút ngắn 02 (hai) giờ trong ngày làm việc áp dụng đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ban hành kèm theo Quyết định của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
2. Hàng ngày, trong 6 giờ làm việc liên tục công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm người lao động có ít nhất 30 phút được nghỉ nếu làm việc vào ban ngày, có ít nhất 45 phút được nghỉ nếu làm việc vào ban đêm.
3. Trong một giờ làm việc đối với công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm người lao động không được làm thêm quá 3 giờ; trong tuần thì tổng cộng thời giờ làm thêm không được quá 9 giờ.
4. Người làm công việc được rút ngắn thời giờ làm việc được trả đủ lương, phụ cấp (nếu có) và các chế độ khác theo quy định của Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động.
1. Người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan quy định tại điểm I Mục I Thông tư ngày có trách nhiệm:
a. Thực hiện việc rút ngắn thời giờ làm việc theo quy định đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc trong danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ban hành kèm theo các Quyết định số 1453/LĐTBXH-QĐ ngày 13/10/1995, số 915/LBTĐXH-QĐ ngày 31/7/1996 và số 1629/LĐTBXH-QĐ ngày 26/12/1996, với các Quyết định của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương bịnh và Xã hội ký ban hành danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm sau ngày Thông tư này có hiệu lực.
b. Ghi vào hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể; quy định biểu thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong nội quy lao động của doanh nghiệp về chế độ thời giờ làm việc hàng ngày được rút ngắn và các chế độ khác đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
2. Các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ, địa phương, thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp thực hiện Thông tư này.
Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký.
Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị các Bộ, ngành, địa phương phản ánh về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để giải quyết.
| Trần Đình Hoan (Đã ký) |
- 1Bộ luật Lao động 1994
- 2Nghị định 195/CP năm 1994 hướng dẫn Luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
- 3Quyết định 1629/LĐTBXH-QĐ năm 1996 ban hành tạm thời danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành
- 4Quyết định 1453/LĐTBXH-QĐ về ban hành tạm thời danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành
- 5Thông tư 12/2003/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 114/2002/NĐ-CP về tiền lương đối với người lao động làm việc trong doanh nghiệp nhà nước do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành
Thông tư 16-LĐTBXH/TT-1997 về thời giờ làm việc hàng ngày được rút ngắn đối với những người làm những công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ Lao động, thương binh và xã hội ban hành
- Số hiệu: 16-LĐTBXH/TT
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 23/04/1997
- Nơi ban hành: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Người ký: Trần Đình Hoan
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 12
- Ngày hiệu lực: 08/05/1997
- Ngày hết hiệu lực: 01/07/2016
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
