Thông tư 07/2015/TT-BCA do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/03/2015, quy định chi tiết về công tác phân loại, nâng loại, hạ loại và tổ chức quản lý trại viên tại các cơ sở giáo dục bắt buộc, cũng như công tác quản lý trại viên trong quá trình sinh hoạt, học tập, lao động, học nghề và khám chữa bệnh.
Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng áp dụng
Thông tư này áp dụng đối với các cơ quan quản lý cơ sở giáo dục bắt buộc, bản thân các cơ sở giáo dục bắt buộc, trại viên đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cùng các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thi hành quyết định này.
Nguyên tắc phân loại và quản lý trại viên
Công tác quản lý và phân loại trại viên phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Thông tư này và pháp luật liên quan. Để bảo đảm an ninh và hiệu quả giáo dục, cơ sở không bố trí những trại viên khác loại, trại viên chung vụ việc vi phạm pháp luật hoặc có quan hệ gia đình (bao gồm ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em ruột của cả bên bản thân và bên vợ hoặc chồng) ở cùng một buồng quản lý, đội hoặc tổ trại viên, trừ trường hợp đặc biệt do Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc quyết định.
Quy định chi tiết về phân loại trại viên
Trại viên tại cơ sở giáo dục bắt buộc được phân chia thành 03 loại cụ thể để áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp:
- Loại H1: Gồm những trại viên đã có tiền án hoặc từng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, trường giáo dưỡng (kể cả trường hợp đã được xóa án tích hoặc được coi là chưa bị áp dụng các biện pháp này); đối tượng cầm đầu, chủ mưu trong các vụ vi phạm pháp luật; trại viên không nhận rõ lỗi lầm, thường xuyên chống đối, từng trốn trại hoặc bị xử lý kỷ luật từ 02 lần trở lên; và trại viên thuộc loại H2 bị nâng loại.
- Loại H2: Gồm những trại viên có thời hạn chấp hành quyết định từ 18 tháng trở lên (trừ các trường hợp thuộc loại H1); trại viên loại H1 được hạ loại hoặc trại viên loại H3 bị nâng loại.
- Loại H3: Gồm những trại viên có thời hạn chấp hành quyết định dưới 18 tháng (trừ các trường hợp thuộc loại H1) và trại viên loại H2 được hạ loại.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận trại viên, Đội trưởng Trinh sát có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ, báo cáo Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc ra quyết định phân loại chính thức. Trong thời gian chờ phân loại, trại viên được quản lý tập trung.
Cơ chế nâng loại và hạ loại trại viên
Việc thay đổi phân loại trại viên được thực hiện định kỳ nhằm khuyến khích sự tiến bộ và răn đe các hành vi vi phạm:
- Hạ loại trại viên: Được xem xét khi trại viên tích cực học tập, lao động, đã chấp hành được ít nhất 1/2 thời hạn và liên tục tiến bộ trong thời gian đó. Trường hợp lập công, cung cấp thông tin ngăn chặn vi phạm pháp luật, trốn trại hoặc có thành tích đặc biệt xuất sắc sẽ được xét hạ loại đột xuất.
- Nâng loại trại viên: Áp dụng đối với trại viên có hành vi vi phạm pháp luật, gây mất an ninh trật tự, móc nối trốn trại hoặc bị xử lý kỷ luật từ 02 lần trở lên.
- Hội đồng xét duyệt: Do Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc làm Chủ tịch; Phó Giám đốc phụ trách trinh sát làm Phó Chủ tịch; các ủy viên gồm Phó Giám đốc phụ trách giáo dục, Phó Giám đốc phụ trách phân khu, các Đội trưởng nghiệp vụ (Trinh sát, Giáo dục, Cảnh sát quản giáo, Cảnh sát bảo vệ - cơ động) và Trưởng phân khu.
- Thời gian xét duyệt: Tiến hành định kỳ cùng với kỳ xếp loại thi đua Quý II và Quý IV hằng năm (trừ các trường hợp hạ loại đột xuất). Quyết định nâng, hạ loại phải được lưu vào hồ sơ trại viên.
Tổ chức quản lý trại viên theo phân loại
Công tác tổ chức giam giữ và sinh hoạt được quy định chặt chẽ:
- Quy mô đội trại viên: Mỗi đội không quá 35 trại viên đối với loại H1, và không quá 45 trại viên đối với loại H2 và H3.
- Phân khu quản lý: Trại viên loại H1 được quản lý tại khu I; trại viên loại H2 và H3 được quản lý tại khu II. Các buồng quản lý phải được đánh số thứ tự rõ ràng. Trước cửa buồng phải niêm yết sơ đồ vị trí chỗ nằm có ảnh, ghi rõ họ tên, năm sinh, quê quán của từng trại viên dưới sự phê duyệt của Giám đốc cơ sở.
- Quản lý trại viên nữ: Phải bố trí tại khu vực riêng biệt, có tường rào ngăn cách và lối đi riêng hoàn toàn với khu vực của trại viên nam.
Quản lý trong sinh hoạt, học tập, lao động và học nghề
Hoạt động hằng ngày của trại viên tuân theo các nguyên tắc giám sát nghiêm ngặt:
- Trại viên sinh hoạt, học tập, lao động, học nghề theo đội dưới sự theo dõi, giám sát của cán bộ cơ sở. Khi trại viên đi lao động ngoài, mỗi đội phải có tối thiểu 02 cán bộ làm nhiệm vụ canh gác và dẫn giải.
- Trại viên loại H1 chỉ được bố trí lao động trong khuôn viên cơ sở hoặc tại các nhà xưởng, khu vực lao động có vọng gác và tường rào bảo vệ an toàn.
- Cán bộ phụ trách có trách nhiệm bàn giao dụng cụ, phương tiện lao động cho từng trại viên và phải thu hồi, kiểm tra, thống kê đầy đủ để đưa vào kho quản lý (nằm ngoài khu vực quản lý trại viên) sau giờ làm việc.
- Ngoài giờ học tập, lao động, sinh hoạt, trại viên phải được quản lý chặt chẽ tại buồng quản lý.
Quản lý trại viên khi điều trị tại cơ sở y tế ngoài
Khi trại viên bị ốm vượt quá khả năng điều trị của bệnh xá cơ sở:
- Cán bộ y tế phối hợp với các Đội trưởng nghiệp vụ báo cáo Giám đốc cơ sở quyết định chuyển viện.
- Trong suốt thời gian điều trị tại bệnh viện ngoài, phải đảm bảo có cán bộ quản lý chặt chẽ 24/24 giờ. Tỷ lệ quản lý tối thiểu là 01 cán bộ giám sát 01 trại viên.
- Đối với trại viên loại H1 hoặc trại viên đang bị quản lý riêng mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh nặng, phải bố trí tối thiểu 02 cán bộ quản lý 01 trại viên để phòng ngừa trốn chạy hoặc các tình huống phát sinh.
- Ngay khi bệnh tình thuyên giảm, cán bộ quản lý phải phối hợp với bệnh viện đưa trại viên về bệnh xá của cơ sở để tiếp tục quản lý, điều trị.
Chế độ quản lý riêng đối với trại viên đặc biệt
Biện pháp quản lý riêng được áp dụng đối với các trường hợp trại viên có độ nguy hiểm cao hoặc vi phạm nghiêm trọng:
- Đối tượng áp dụng: Trại viên bị kỷ luật từ 02 lần trở lên trong một năm; trại viên có biểu hiện móc nối, gây mất an ninh trật tự, trốn trại, mang vật cấm vào cơ sở; hoặc trại viên cần cách ly để tránh tác động xấu, bảo đảm an toàn chung.
- Quy chuẩn buồng quản lý riêng: Bố trí từ 02 đến 15 trại viên, xây dựng theo thiết kế chuẩn của Bộ Công an.
- Thời hạn quản lý riêng: Từ 01 đến 03 tháng. Nếu tiến bộ có thể được đưa ra buồng chung trước thời hạn; nếu không tiến bộ có thể gia hạn nhiều lần nhưng không vượt quá thời hạn chấp hành quyết định đưa vào cơ sở.
- Thủ tục quyết định: Đội trưởng Trinh sát chủ trì phối hợp với các Đội trưởng nghiệp vụ báo cáo Giám đốc cơ sở quyết định. Trong thời gian này, các đội nghiệp vụ phải phân công cán bộ thường xuyên gặp gỡ, giáo dục trại viên và lập hồ sơ theo dõi tại Đội Trinh sát.
Quy định về điều chuyển trại viên
Đối với trại viên thường xuyên vi phạm nội quy, đã bị quản lý riêng hoặc giáo dục nhưng không tiến bộ, Giám đốc cơ sở quyết định điều chuyển giữa các phân khu trong cơ sở. Trường hợp cần thiết phải chuyển đến cơ sở giáo dục bắt buộc khác để bảo đảm an ninh hoặc phục vụ yêu cầu nghiệp vụ, Giám đốc cơ sở báo cáo Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp xem xét, quyết định. Quyết định điều chuyển phải được gửi cho cơ quan lập hồ sơ, Tòa án nhân dân ra quyết định và bản thân trại viên.
Hiệu lực thi hành và Tổ chức thực hiện
Thông tư 07/2015/TT-BCA có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/03/2015, thay thế hoàn toàn Quyết định số 03/2005/QĐ-BCA(V26) ngày 05/01/2005 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về phân loại và tổ chức quản lý trại viên theo loại trong các cơ sở giáo dục.
Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp chịu trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện. Các Thủ trưởng đơn vị trực thuộc Bộ Công an, Giám đốc Công an, Giám đốc Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm thi hành nghiêm túc Thông tư này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ CÔNG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 07/2015/TT-BCA | Hà Nội, ngày 27 tháng 01 năm 2015 |
Căn cứ Nghị định số 02/2014/NĐ-CP ngày 10/01/2014 quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc (sau đây viết gọn là Nghị định số 02/2014/NĐ-CP);
Căn cứ Nghị định số 106/2014/NĐ-CP ngày 17/11/2014 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an;
Theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp,
Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư quy định quản lý trại viên cơ sở giáo dục bắt buộc.
Thông tư này quy định về phân loại trại viên, nâng loại, hạ loại, quản lý trại viên theo loại tại cơ sở giáo dục bắt buộc; quản lý trại viên khi sinh hoạt, học tập, lao động, học nghề; quản lý trại viên khi chữa bệnh tại bệnh viện, cơ sở y tế ngoài cơ sở giáo dục bắt buộc.
Thông tư này áp dụng đối với:
1. Cơ quan quản lý cơ sở giáo dục bắt buộc.
2. Cơ sở giáo dục bắt buộc.
3. Trại viên đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
4. Tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc của trại viên.
Điều 3. Nguyên tắc phân loại, quản lý trại viên
1. Tuân thủ quy định tại Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Không bố trí những trại viên khác loại, trại viên trong cùng vụ việc vi phạm pháp luật hoặc có quan hệ gia đình (ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em ruột, kể cả bên vợ hoặc chồng) cùng buồng quản lý, đội hoặc tổ trại viên (trừ trường hợp Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc quyết định).
1. Trại viên được phân thành 3 loại: H1, H2, H3
a) Loại H1 gồm những trại viên thuộc một trong các trường hợp sau:
- Đã có tiền án hoặc đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (trước đây là đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh) hoặc đưa vào trường giáo dưỡng;
- Đã được xóa án tích hoặc đã được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (trước đây là đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh) hoặc đưa vào trường giáo dưỡng;
- Cầm đầu, chủ mưu trong các vụ việc vi phạm pháp luật;
- Quá trình chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc không nhận rõ lỗi lầm, thường xuyên có hành vi chống đối hoặc đã có 01 lần trốn khỏi cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Điều 36 Nghị định số 02/2014/NĐ-CP từ 02 lần trở lên.
- Trại viên loại H2 bị nâng loại.
b) Loại H2 gồm những trại viên thuộc một trong các trường hợp sau:
- Thời hạn chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ 18 tháng trở lên (trừ các trường hợp quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này);
- Trại viên loại H1 được hạ loại; trại viên loại H3 bị nâng loại.
c) Loại H3 gồm những trại viên thuộc một trong các trường hợp sau:
- Thời hạn chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc dưới 18 tháng (trừ các trường hợp quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này);
- Trại viên loại H2 được hạ loại.
2. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tiếp nhận trại viên, Đội trưởng Trinh sát phải nghiên cứu hồ sơ, báo cáo Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc ra quyết định phân loại và tổ chức quản lý trại viên theo loại. Trong thời gian chưa phân loại, trại viên được quản lý tập trung.
Điều 5. Nâng loại, hạ loại trại viên
1. Hạ loại trại viên
a) Trại viên tích cực học tập, lao động, đã chấp hành được 1/2 thời hạn mà trong thời gian đó liên tục tiến bộ thì được xét hạ loại;
b) Trại viên lập công, cung cấp thông tin giúp ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật, gây mất an ninh, trật tự, trốn khỏi cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc có thành tích đặc biệt xuất sắc khác được Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc cấp có thẩm quyền quyết định khen thưởng thì được xét hạ loại đột xuất.
2. Nâng loại trại viên
Trại viên có hành vi vi phạm pháp luật, gây mất an ninh, trật tự, câu kết, móc nối, tìm cách trốn khỏi cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Điều 36 Nghị định số 02/2014/NĐ-CP từ 02 lần trở lên thì xem xét nâng loại.
3. Hội đồng xét nâng loại, hạ loại trại viên do Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc thành lập, gồm:
- Giám đốc Cơ sở giáo dục bắt buộc làm Chủ tịch hội đồng;
- Phó Giám đốc phụ trách trinh sát làm Phó Chủ tịch;
- Phó giám đốc phụ trách giáo dục, Phó Giám đốc phụ trách phân khu, Đội trưởng Trinh sát, Đội trưởng Giáo dục, hồ sơ, Đội trưởng Cảnh sát quản giáo, Đội trưởng Cảnh sát bảo vệ - cơ động, Trưởng phân khu làm Ủy viên.
Căn cứ kết quả họp của Hội đồng, Chủ tịch Hội đồng quyết định nâng loại, hạ loại trại viên. Quyết định được lưu vào hồ sơ trại viên.
4. Thời gian xét nâng loại, hạ loại trại viên thực hiện cùng với kỳ xếp loại thi đua Quý II và Quý IV của cơ sở giáo dục bắt buộc, trừ trường hợp quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này.
Điều 6. Tổ chức quản lý trại viên theo loại
1. Trại viên được tổ chức thành từng đội, mỗi đội không quá 35 trại viên đối với loại H1, không quá 45 trại viên đối với loại H2, H3.
2. Trại viên loại H1 quản lý tại khu I; trại viên loại H2, H3 quản lý tại khu II. Các buồng quản lý khu I được đánh số thứ tự từ I.1, I.2...cho đến hết; các buồng quản lý khu II được đánh số thứ tự từ II.1, II.2...cho đến hết. Trước cửa buồng quản lý trại viên phải có sơ đồ vị trí chỗ nằm, có ảnh, ghi rõ họ tên, năm sinh, quê quán (hoặc nơi đăng ký thường trú) của từng trại viên. Sơ đồ vị trí chỗ nằm của trại viên phải được Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc phê duyệt.
3. Trại viên nữ phải bố trí quản lý ở khu vực riêng, có tường rào ngăn cách, lối đi riêng với khu vực quản lý trại viên nam.
Điều 7. Quản lý trại viên khi sinh hoạt, học tập, lao động, học nghề
1. Trại viên được bố trí sinh hoạt, học tập, lao động, học nghề theo đội. Mỗi đội trại viên phải có cán bộ cơ sở giáo dục bắt buộc theo dõi, giám sát. Trường hợp trại viên đi lao động thì mỗi đội phải có ít nhất 02 cán bộ cơ sở giáo dục bắt buộc làm nhiệm vụ canh gác, dẫn giải.
2. Trại viên loại H1 được bố trí lao động trong khuôn viên cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc ở những nhà xưởng, khu lao động có vọng gác, tường rào bảo vệ.
3. Cán bộ cơ sở giáo dục bắt buộc được giao quản lý, phụ trách đội trại viên phải bàn giao dụng cụ, phương tiện lao động, học nghề cho từng trại viên để sử dụng, quản lý trong khi lao động, học nghề. Hết giờ làm việc phải kiểm tra, thống kê đầy đủ và đưa vào kho để quản lý. Kho phải bố trí bên ngoài khu vực quản lý trại viên.
4. Ngoài giờ sinh hoạt, học tập, lao động, học nghề, trại viên được quản lý tại buồng quản lý của cơ sở giáo dục bắt buộc.
Điều 8. Quản lý trại viên khi khám, điều trị tại bệnh viện, cơ sở y tế
1. Trại viên bị ốm mà vượt quá khả năng điều trị của cơ sở giáo dục bắt buộc thì cán bộ y tế chủ trì, thống nhất với Đội trưởng Trinh sát, Đội trưởng Cảnh sát quản giáo, Đội trưởng Giáo dục, hồ sơ, Đội trưởng Cảnh sát bảo vệ - cơ động, Trưởng phân khu cơ sở giáo dục bắt buộc báo cáo Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc quyết định đưa trại viên đi khám, điều trị tại bệnh viện hoặc cơ sở y tế.
2. Trong thời gian khám, điều trị tại bệnh viện hoặc cơ sở y tế phải có cán bộ cơ sở giáo dục bắt buộc quản lý chặt chẽ 24/24 giờ trong ngày. Trường hợp trại viên phải nằm điều trị tại bệnh viện hoặc cơ sở y tế đó thì phải có ít nhất 01 cán bộ cơ sở giáo dục bắt buộc quản lý 01 trại viên.
Đối với trại viên loại H1, trại viên bị quản lý riêng mắc bệnh hiểm nghèo, ốm nặng thì phải có ít nhất 02 cán bộ cơ sở giáo dục bắt buộc quản lý 01 trại viên.
3. Trường hợp bệnh thuyên giảm, cán bộ cơ sở giáo dục bắt buộc được giao quản lý trại viên thống nhất với bệnh viện hoặc cơ sở y tế đưa ngay trại viên về bệnh xá của cơ sở giáo dục bắt buộc để quản lý, điều trị theo phác đồ điều trị của bệnh viện hoặc cơ sở y tế.
Điều 9. Trại viên quản lý riêng
1. Trại viên thuộc một trong các trường hợp sau thì thì bị quản lý riêng:
a) Trại viên vi phạm nội quy cơ sở giáo dục bắt buộc bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Điều 36 Nghị định số 02/2014/NĐ-CP từ 02 lần trở lên trong một năm;
b) Trại viên có biểu hiện, hành vi câu kết, móc nối với trại viên khác, người khác gây mất an ninh, trật tự, trốn khỏi cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vật cấm vào cơ sở giáo dục bắt buộc;
c) Trại viên khác xét thấy cần phải cách ly để tránh bị tác động xấu, bảo đảm yêu cầu quản lý, giáo dục trại viên.
2. Buồng quản lý riêng bố trí quản lý từ 02 đến 15 trại viên, được xây dựng theo mẫu thiết kế của Bộ Công an.
3. Thời hạn quản lý riêng từ 01 tháng đến 03 tháng. Trong thời gian quản lý riêng nếu trại viên tiến bộ thì có thể được xét đưa ra buồng quản lý chung trước thời hạn, nếu không tiến bộ thì có thể gia hạn nhiều lần, nhưng không quá thời hạn chấp hành quyết định.
4. Việc quản lý riêng trại viên, đưa trại viên ra buồng quản lý chung trước thời hạn do Đội trưởng Trinh sát chủ trì, thống nhất với Đội trưởng Giáo dục, hồ sơ, Đội trưởng Cảnh sát quản giáo, Đội trưởng Cảnh sát bảo vệ - cơ động, Trưởng phân khu báo cáo Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc quyết định.
5. Trong thời gian trại viên bị quản lý riêng, Đội Trinh sát, Đội Giáo dục, hồ sơ, Đội Cảnh sát quản giáo, Trưởng phân khu có trách nhiệm phân công cán bộ thường xuyên gặp gỡ, giáo dục trại viên đó.
6. Trại viên quản lý riêng phải có hồ sơ theo dõi tại Đội Trinh sát.
Điều 10. Điều chuyển trại viên
Trại viên thường xuyên vi phạm nội quy đã bị quản lý riêng hoặc đã được giáo dục nhưng không tiến bộ thì Đội trưởng Trinh sát thống nhất với Đội trưởng Giáo dục, hồ sơ, Đội trưởng Cảnh sát quản giáo, Đội trưởng Cảnh sát bảo vệ - cơ động, Trưởng phân khu báo cáo Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc điều chuyển trại viên từ phân khu này đến phân khu khác. Trường hợp xét thấy cần thiết phải phân hóa, điều chuyển trại viên đó đến cơ sở giáo dục bắt buộc khác mới bảo đảm an ninh, trật tự cho cơ sở giáo dục bắt buộc cũng như yêu cầu nghiệp vụ quản lý trại viên thì Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc báo cáo Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp xem xét, quyết định điều chuyển trại viên đến cơ sở giáo dục bắt buộc khác. Quyết định điều chuyển được gửi cho cơ quan đã lập hồ sơ, Tòa án nhân dân đã ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, trại viên.
Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 16/3/2015 và thay thế Quyết định số 03/2005/QĐ-BCA(V26) ngày 05/01/2005 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về phân loại và tổ chức quản lý trại viên theo loại trong các cơ sở giáo dục.
1. Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp có trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này.
2. Các Tổng cục trưởng, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ, Giám đốc Công an, Giám đốc Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các tổ chức, cá nhân liên quan chịu trách nhiệm thực hiện Thông tư này.
Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc nảy sinh, Công an các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ Công an (qua Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp) để có hướng dẫn kịp thời.
|
| BỘ TRƯỞNG |
- 1Thông tư liên tịch 05/2003/TTLT-BCA-BTC-BYT hướng dẫn công tác quản lý, chăm sóc, điều trị, tư vấn người bị tạm giam, phạm nhân, trại viên, học sinh bị nhiễm HIV/AIDS trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng do Bộ Công an quản lý do Bộ Công an, Bộ Tài chính và Bộ Y tế ban hành
- 2Thông tư 21/2015/TT-BCA về Nội quy cơ sở giáo dục bắt buộc do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành
- 3Thông tư 43/2015/TT-BCA Quy định về thăm gặp; nhận, gửi thư, tiền, quà; liên lạc điện thoại đối với học sinh trường giáo dưỡng, trại viên cơ sở giáo dục bắt buộc do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành
- 4Thông tư 31/2016/TT-BCA quy định công tác của Cảnh sát quản giáo ở cơ sở giáo dục bắt buộc do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành
- 1Thông tư liên tịch 05/2003/TTLT-BCA-BTC-BYT hướng dẫn công tác quản lý, chăm sóc, điều trị, tư vấn người bị tạm giam, phạm nhân, trại viên, học sinh bị nhiễm HIV/AIDS trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng do Bộ Công an quản lý do Bộ Công an, Bộ Tài chính và Bộ Y tế ban hành
- 2Nghị định 02/2014/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc
- 3Thông tư 21/2015/TT-BCA về Nội quy cơ sở giáo dục bắt buộc do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành
- 4Thông tư 43/2015/TT-BCA Quy định về thăm gặp; nhận, gửi thư, tiền, quà; liên lạc điện thoại đối với học sinh trường giáo dưỡng, trại viên cơ sở giáo dục bắt buộc do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành
- 5Thông tư 31/2016/TT-BCA quy định công tác của Cảnh sát quản giáo ở cơ sở giáo dục bắt buộc do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành
Thông tư 07/2015/TT-BCA quy định quản lý trại viên cơ sở giáo dục bắt buộc do Bộ trưởng Bộ Công An ban hành
- Số hiệu: 07/2015/TT-BCA
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 27/01/2015
- Nơi ban hành: Bộ Công An
- Người ký: Trần Đại Quang
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 16/03/2015
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
