|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 90 /2026/QĐÐST-HNGĐ |
Đà Nẵng, ngày 05 tháng 02 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ SỰ THỎA THUẬN
CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 466/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” giữa:
- Nguyên đơn: Bà Châu Thị Minh N, sinh năm 1990
Căn cước số: 048190002515, cấp ngày: 03/7/2024
Địa chỉ: Số A N, phường T, thành phố Đà Nẵng
- Bị đơn: Ông Đặng N1, sinh năm 1981
Căn cước công dân số: 048081004683, cấp ngày: 22/12/2021
Địa chỉ: Tổ F, phường N, thành phố Đà Nẵng
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 28 tháng 01 năm 2026.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 28 tháng 01 năm 2026 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
- Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Châu Thị Minh N và ông Đặng Ngọc. (Do công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Châu Thị Minh N và ông Đặng Ngọc N2 Giấy chứng nhận kết hôn số 71 do Ủy ban nhân dân phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng nay là Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 17 tháng 7 năm 2020 không còn giá trị pháp lý).
- Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Châu Thị Minh N và ông Đặng Ngọc thuận T ly hôn.
- Về con chung: Bà Châu Thị Minh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung tên Đặng Bảo V, sinh ngày 24/02/2021 và Đặng Bảo Khánh A, sinh ngày 08/10/2023 cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Ông Đặng N1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 5.000.000 đồng/tháng (mỗi con 2.500.000 đồng/tháng) cho đến khi lần lượt từng con đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng là ngày 10 hàng tháng, bắt đầu từ tháng 02 năm 2026.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
- Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng), bà Châu Thị Minh N tự nguyện chịu. Án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng), theo quy định ông Đặng Ngọc P chịu, nhưng bà Châu Thị Minh N tự nguyện chịu thay cho ông Đặng Ngọc. Tổng cộng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bà Châu Thị Minh N đã nộp tại Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng theo Biên lai thu số 0007503 ngày 22/12/2025. Bà Châu Thị Minh N đã nộp đủ án phí.
Bên không trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung các bên đương sự có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
- Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Nguyễn Quốc Vũ |
Quyết định số 90/2026/QĐÐST-HNGĐ ngày 05/02/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số quyết định: 90/2026/QĐÐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/02/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Châu Thị Minh Nguyệt và ông Đặng Ngọc. (Do công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Châu Thị Minh Nguyệt và ông Đặng Ngọc nên Giấy chứng nhận kết hôn số 71 do Ủy ban nhân dân phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng nay là Ủy ban nhân dân phường Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 17 tháng 7 năm 2020 không còn giá trị pháp lý).
