Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 – ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26/12/2025
V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Tòng và bà Nguyễn Thị Phụng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thái – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Phong – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 52/2025/TLST-HNGĐ ngày 01/10/2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 30/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03/12/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị T, sinh năm 1997; nơi cư trú: Khu phố A, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1990; nơi cư trú: Khu phố A, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hồ Thị T trình bày:

- Quan hệ hôn nhân: Bà T và ông N tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2016, đăng ký kết hôn và được UBND thị trấn H (nay là UBND phường H, tỉnh Đắk Lắk) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 178 ngày 28/12/2016. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên xảy ra xích mích cãi vã. Hai vợ chồng cũng cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông N để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Hồ Linh C, sinh ngày 08/8/2017, hiện do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Bà yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 05/12/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn N trình bày:

- Quan hệ hôn nhân: Ông N và bà T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, cuộc sống hôn nhân bình thường, tuy nhiên cách đây 4 tháng không rõ vì sao bà T đưa con đi thuê nhà trọ ở và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Mặc dù, ông N cho rằng mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng nhưng xét thấy bà T kiên quyết yêu cầu ly hôn, ông N đồng ý ly hôn theo yêu cầu của nguyên đơn.

- Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Hồ Linh C, sinh ngày 08/8/2017, ông N thống nhất giao con chung cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, ông không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị xét xử vắng mặt các bên đương sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà T được ly hôn với ông N.

  • Về con chung: Giao cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung Nguyễn Hồ Linh C, sinh ngày 08/8/2017; bà T không yêu cầu cấp dưỡng nên không xét.
  • Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên không xét.
  • Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả thảo luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Bà Hồ Thị T khởi kiện xin ly hôn ông Nguyễn Văn N, có đăng ký thường trú tại khu phố A, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk.

[1.2] Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo biên bản xác minh ngày 05/11/2025 tại Công an phường Đ, ông Nguyễn Văn N có đăng ký nhân khẩu thường trú tại khu phố A, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk, hiện nay đang đi làm ăn ở xa nhưng có đi, về địa phương thường xuyên. Tuy nhiên trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, do đó Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông N tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2016, đăng ký kết hôn và được UBND thị trấn H (nay là UBND phường H, tỉnh Đắk Lắk) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 178 ngày 28/12/2016, là hôn nhân hợp pháp. Bà T cho rằng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc vì không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, xích mích do bất đồng quan điểm sống. Từ tháng 4/2025, cả hai đã sống riêng, không còn quan tâm đến cuộc sống chung của gia đình. Ông N thừa nhận vợ chồng đã sống riêng, dù không có mâu thuẫn gì lớn nhưng cũng không mong muốn hàn gắn mâu thuẫn, vợ chồng đoàn tụ tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình, thống nhất yêu cầu ly hôn của bà T. HĐXX nhận thấy bà T, ông N không còn yêu thương nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, phù hợp ý kiến bị đơn và quy định pháp luật.

[2.2] Về con chung: Bà T và ông N có một con chung là Nguyễn Hồ Linh C, sinh ngày 08/8/2017, hiện nay do bà T trực tiếp nuôi dưỡng và có nguyện vọng được ở với mẹ. Bà T yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, ông N thống nhất giao cho bà T nuôi dưỡng con chung, cả hai không có yêu cầu, ý kiến về việc cấp dưỡng. Xét thấy việc giao con chung cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện thực tế, nguyện vọng của con chung và hai bên đương sự, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu, nên HĐXX chấp nhận. Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Hồ Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Văn N.

2. Về con chung: Giao cho bà Hồ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Nguyễn Hồ Linh C, sinh ngày 08/8/2017. Bà T không yêu cầu nên ông N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản; Khi cần thiết có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Bà Hồ Thị T nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn, đã nộp đủ theo Biên lai số 0001124 ngày 29/9/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND khu vực 12 – Đắk Lắk;
  • - THADS tỉnh Đắk Lắk;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Đông Hoà;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Võ Thị Tuyết Trinh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 45/2025/HNGĐ-ST ngày 26/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk về ly hôn

  • Số quyết định: 45/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BỊ ĐƠN VẮNG MẶT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger