|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH Bản án số: 120/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29-12-2025 V/v Tranh chấp hôn nhân gia đình |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trung Thông.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Chương và ông Đoàn Xuân Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh.
Vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 29 tháng 12 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 131/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2025 về việc “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXX-ST ngày 15 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày: 02/09/1991, số CCCD: [...], địa chỉ: Tổ dân phố E, xã N, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh ngày: 14/10/1985, số CCCD: [...], nơi ĐKNKTT: Xóm C, xã L, tỉnh Nghệ An. Hiện đang chấp hành án tại: Phân trại số A, Trại giam X, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị Nguyễn Thị H kết hôn với anh Nguyễn Văn S trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp, có đăng ký kết hôn vào ngày 27/4/2011 tại UBND Thị Trấn X, huyện N (nay là xã N), tỉnh Hà Tĩnh. Sau kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm sống không hợp nhau. Cuối năm 2021 anh Nguyễn Văn S vi phạm pháp luật và đang phải thi hành án tại Trại giam X, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. Nay, chị H xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, hạnh phúc hôn nhân không thể đạt được nữa nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung Nguyễn Thị Đan L, sinh ngày 20/01/2013 và Nguyễn Thị Minh A, sinh ngày 18/9/2024. Chị Nguyễn Thị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu anh Nguyễn Văn S cấp dưỡng nuôi con.
Bị đơn anh Nguyễn Văn S quá trình giải quyết vụ án đã có bản tự khai ngày 05/12/2025 và đơn đề nghị giải quyết vắng mặt thể hiện: Đề nghị lựa chọn Tòa án nhân dân khu vực 3 – Hà Tĩnh là nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H là nơi giải quyết vụ án ly hôn; Do các tài liệu chị H nộp anh S đã được biết và không có bổ sung thêm tài liệu gì nên đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử và xét xử vắng mặt.
Về nội dung vụ án: Về thời điểm kết hôn, thời điểm xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn như lời trình bày của nguyên đơn; hiện anh S thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hiện nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh S đồng ý ly hôn với chị H. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung: Nguyễn Thị Đan L, sinh ngày 20/01/2013 và Nguyễn Thị Minh A, sinh ngày 18/9/2024. Do hiện nay anh S đang phải chấp hành án không có điều kiện để nuôi con nên anh đồng ý giao cả hai con cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Sau khi anh S chấp hành án xong thì anh làm đơn gửi Tòa yêu cầu thay đổi nuôi con. Về tài sản, nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nội dung vụ án, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn hiện đang thi hành án tại Trại giam X, xã T, tỉnh Hà Tĩnh nhưng các đương sự đã thống nhất lựa chọn Tòa án nhân dân khu vực 3 – Hà Tĩnh giải quyết vụ án. Căn cứ vào Điều 35, Điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Hà Tĩnh.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành buổi tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng nguyên đơn có đơn đề nghị không hòa giải, còn bị đơn đang phải chấp hành án tại Trại giam nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và đều có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn S1 hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 27/4/2011 tại UBND Thị Trấn X, huyện N (nay là xã N), tỉnh Hà Tĩnh là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong các, đơn trình bày, bản tự khai chị H, anh S đều khẳng định mâu thuẫn chồng đã trầm trọng, không còn tình cảm với nhau nữa, vì vậy hai bên đều yêu cầu được ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không thể đạt được vì vậy cần ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của các bên.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung: Nguyễn Thị Đan L, sinh ngày 20/01/2013 và Nguyễn Thị Minh A, sinh ngày 18/9/2024.
Quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị H có nguyện vọng được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh Nguyễn Văn S cấp dưỡng nuôi con. Còn anh Nguyễn Văn S trình bày do hiện nay anh đang phải chấp hành án tại Trại giam không có điều kiện để nuôi con nên anh đồng ý giao cả hai con cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận sự thỏa thuận về việc nuôi con của các đương sự: Giao cả hai con cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành là có cơ sở theo quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu anh Nguyễn Văn S cấp dưỡng nuôi con nên Tòa không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H tự nguyện thỏa thuận nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về Điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 58; khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Về nội dung:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn S.
2.2. Về con chung và cấp dưỡng: Giao hai con chung Nguyễn Thị Đan L, sinh ngày 20/01/2013 và Nguyễn Thị Minh A, sinh ngày 18/9/2024 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn S không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H tự nguyện thỏa thuận nộp 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0000674 ngày 25 tháng 11 năm 2025 của Chi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh, số tiền hoàn trả cho chị Nguyễn Thị H là: 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Trung Thông |
Quyết định số 120/2025/HNGĐ-ST ngày 29/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số quyết định: 120/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị H xin ly hôn anh Nguyễn Văn S
