|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2026/HNGĐ- ST |
Ngày 09-01-2026 |
|
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Huân
2. Ông Từ Minh Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Hội - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 137/2025/TLST-HNGĐ ngày 01/10/2025 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/12/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2025/QÐST-HNGĐ ngày 24/12/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đào Thị V, sinh ngày 03/9/1988; Số căn cước công dân: [...]; nơi ĐKHK: Thôn Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh; nơi ở: Số H, đường Z, quận Y, thành phố Đ, Đài Loan, Trung Quốc (vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 20/8/1981; Số căn cước công dân: [...]; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Đào Thị V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Ngọc T là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã L, tỉnh Bắc Ninh) ngày 02/5/2008. Sau khi kết hôn chị và anh T về chung sống với nhau ngay.
Tháng 01/2024, do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, chị quyết định đi lao động tại Đài Loan, Trung Quốc. Thời gian đầu khi chị mới sang Đài Loan thì cuộc sống vợ chồng vẫn tốt đẹp, anh chị thường xuyên liên lạc và động viên nhau. Đến tháng 9/2024, do vợ chồng mỗi người một nơi, thời gian làm việc, sinh hoạt chênh lệch nhau nên anh chị không còn thường xuyên liên lạc với nhau nữa. Mỗi lần liên lạc anh chị nảy sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã, bất đồng quan điểm sống từ việc nuôi dạy con cái đến việc làm ăn, phát triển kinh tế gia đình. Hai bên gia đình đã động viên, khuyên giải và anh chị cùng cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả.
Nay chị thấy chị và anh T không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị được giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T.
- Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là Nguyễn Đào Gia H, sinh ngày 17/5/2009 và Nguyễn Gia Đ, sinh ngày 11/8/2012. Hiện nay cả hai con chung đang ở với anh T. Nay ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết giao cho anh T được tiếp tục được nuôi cả hai con chung.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, ruộng đất nông nghiệp: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra chị Đào Thị V không trình bày gì thêm.
* Theo biên bản lấy lời khai, bị đơn là anh Nguyễn Ngọc T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị V có tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn năm 2008 tại UBND xã L. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống với nhau ngay. Quá trình chung sống anh chị không có mâu thuẫn gì, đến năm 2023 chị V đi nước ngoài anh chị cũng không phát sinh mâu thuẫn gì. Chị V đề nghị giải quyết ly hôn thì anh không đồng ý. Chị V đi nước ngoài, anh ở nhà nuôi con mà chị V không quan tâm gì đến chồng con. Khoảng một năm nay chị V không liên lạc gì với anh mà chỉ liên lạc với các con. Chị V tự cắt liên lạc với anh, nay chị V yêu cầu ly hôn mà không có mâu thuẫn gì thì anh không đồng ý. Anh chỉ đồng ý ly hôn nếu chị V về Việt Nam nói chuyện cụ thể, rõ ràng. Nếu chị V nhất quyết ly hôn anh cũng không đồng ý.
- Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là Nguyễn Đào Gia H, sinh ngày 17/5/2009 và Nguyễn Gia Đ, sinh ngày 11/8/2012. Hiện nay cả hai con chung đang ở với anh. Do không đồng ý ly hôn nên anh không đề nghị giải quyết về con chung. Khi nào chị V về Việt Nam để giải quyết ly hôn thì anh chị thỏa thuận về việc nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, ruộng đất nông nghiệp: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, anh Nguyễn Ngọc T không còn ý kiến nào khác.
Ngày 12 tháng 11 năm 2025, Tòa án tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Đào Thị V có đơn xin vắng mặt, anh Nguyễn Ngọc T vắng mặt không có lý do nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
Ngày 01 tháng 12 năm 2025, Tòa án tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Đào Thị V có đơn xin vắng mặt, anh Nguyễn Ngọc T vắng mặt không có lý do nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
- Tại phiên tòa ngày 24 tháng 12 năm 2025, chị Đào Thị V có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Ngọc T đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát khu vực 4 – Bắc Ninh đề nghị hoãn phiên tòa nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa.
- Tại phiên tòa ngày 09 tháng 01 năm 2026, chị Đào Thị V có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Ngọc T có mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
- Tại phiên tòa, anh Nguyễn Ngọc T trình bày: Anh và chị V có được tự nguyện tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L. Quá trình chung sống anh chị có thời gian dài hòa thuận. Đến khoảng tháng 9 năm 2024 anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị V hiểu lầm anh về việc anh chơi bời. Anh đã xin lỗi nhiều lần và hàn gắn nhiều lần nhưng chị V không đồng ý và đã cắt đứt liên lạc với anh. Nay, chị V đề nghị ly hôn thì anh không đồng ý, trường hợp chị V nhất quyết ly hôn thì anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
+ Về con chung: Anh đồng ý nuôi cả hai con chung là Nguyễn Đào Gia H, sinh ngày 17/5/2009 và Nguyễn Gia Đ, sinh ngày 11/8/2012.
Về cấp dưỡng nuôi con: Khi nào chị V về nước thì anh chị thỏa thuận với nhau về cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung và công nợ: Khi nào chị V về nước thì anh chị sẽ giải quyết với nhau về tài sản chung và công nợ vì hiện nay anh chị vẫn còn nợ chưa trả hết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn có mặt nên đề nghị HĐXX xét xử vụ án theo thủ tục chung.
+ Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 144, khoản 4 Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị V được ly hôn anh Nguyễn Ngọc T.
Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Ngọc T được trực tiếp nuôi hai con chung là Nguyễn Đào Gia H, sinh ngày 17/5/2009 và Nguyễn Gia Đ, sinh ngày 11/8/2012.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Đào Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát khu vực 4 – Bắc Ninh và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn là chị Đào Thị V có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Nguyễn Ngọc T có mặt; căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Ngọc T có nơi cư trú tại xã L, tỉnh Bắc Ninh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh.
[3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Đào Thị V có đơn xin ly hôn và đề nghị giải quyết về con chung với anh Nguyễn Ngọc T nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".
[4] Về nội dung:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị V và anh Nguyễn Ngọc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND xã L, tỉnh Bắc Ninh) ngày 02/5/2008. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh T là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại thôn Đ, xã L. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị V trình bày là do anh chị nảy sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã, bất đồng quan điểm sống từ việc nuôi dạy con cái đến việc làm ăn, phát triển kinh tế gia đình. Hai bên gia đình đã động viên, khuyên giải và anh chị cùng cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả.
Theo anh T thì khoảng tháng 9 năm 2024 anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị V hiểu lầm anh về việc anh chơi bời. Anh đã xin lỗi nhiều lần và hàn gắn nhiều lần nhưng chị V không đồng ý. Chị V đi nước ngoài, anh ở nhà nuôi con mà chị V không quan tâm gì đến chồng con. Khoảng một năm nay chị V không liên lạc gì với anh mà chỉ liên lạc với các con. Chị V tự cắt liên lạc với anh, nay chị V yêu cầu ly hôn thì anh không đồng ý, trường hợp chị V nhất quyết ly hôn thì anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Điều này chứng tỏ hôn nhân giữa chị V và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần xử cho chị V được ly hôn với anh T là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[4.2] Về con chung: Quá trình chung sống chị Đào Thị V và anh Nguyễn Ngọc T có 02 con chung là Nguyễn Đào Gia H, sinh ngày 17/5/2009 và Nguyễn Gia Đ, sinh ngày 11/8/2012. Chị Đào Thị V đề nghị giao cho anh T được trực tiếp nuôi cả hai con chung vì hiện nay hai con chung đang ở với anh T, chị đang đi xuất khẩu lao động, không có nhà. Anh Nguyễn Ngọc T đồng ý nuôi hai con chung. Hai con chung có nguyện vọng được tiếp tục ở với anh T.
Xét thấy: Đề nghị của chị Đào Thị V và anh Nguyễn Ngọc T là phù hợp pháp luật, phù hợp đạo đức xã hội và phù hợp với nguyện vọng của con chung. Bên cạnh đó, hiện nay chị V không có mặt tại địa phương nên cần giao cho anh Nguyễn Ngọc T được trực tiếp nuôi hai con chung là Nguyễn Đào Gia H, sinh ngày 17/5/2009 và Nguyễn Gia Đ, sinh ngày 11/8/2012.
Sau khi ly hôn chị V được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị thực hiện quyền này là phù hợp với các điều 58, 82 luật hôn nhân gia đình.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đào Thị V và anh Nguyễn Ngọc T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4.3] Về tài sản chung, công nợ và ruộng đất nông nghiệp: Chị Đào Thị V không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chị Đào Thị V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị V đã nộp.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 28, 35, 39, 144, khoản 4 Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T.
- Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Ngọc T được trực tiếp nuôi hai con chung là Nguyễn Đào Gia H, sinh ngày 17/5/2009 và Nguyễn Gia Đ, sinh ngày 11/8/2012.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét giải quyết.
Chị V có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở chị thực hiện quyền này. Tuy nhiên, người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người trực tiếp nuôi dưỡng.
Vì lợi ích của con chung, Tòa án có thể thụ lý giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vụ án yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nếu sau này các đương sự có đơn yêu cầu và theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Chị Đào Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0000946 ngày 01/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận chị Đào Thị V đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Ngọc Oanh |
Quyết định số 03/2026/HNGĐ- ST ngày 09/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số quyết định: 03/2026/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đào Thị V xin ly hôn anh Nguyễn Ngọc T
