|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÁI NGUYÊN Số: 02/2025/QÐST-VDS |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Thái Nguyên, ngày 24 tháng 12 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Hủy kết hôn trái pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÁI NGUYÊN
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Hà Thanh Tuấn.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Triệu Giang - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thái Nguyên tham gia phiên họp: Bà Mạc Thị Quỳnh Dâng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Thái Nguyên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2025/TLST-VDS ngày 24 tháng 10 năm 2025 về việc hủy kết hôn trái pháp luật theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2025/QÐST-VDS ngày 24 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2025/QÐST-VDS ngày 09/12/2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Chị Trương Thị B, sinh năm 1999 - Địa chỉ: Thôn B, xã T, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Hoàng Văn M, sinh năm 1989 - Địa chỉ: Thôn P, xã C, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt tại phiên họp lần thứ 2 không lý do.
Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thái Nguyên. Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Lê N - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thái Nguyên. Người đại diện theo ủy quyền ông Lý Văn T – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thái Nguyên. (theo văn bản ủy quyền số 645/QĐ-UBND ngày 12/11/2025). Vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 16 tháng 10 năm 2025, bản tự khai và biên bản lấy lời khai chị Trương Thị B trình bày như sau: Ngày 06/3/2019 Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (nay là UBND xã T, tỉnh Thái Nguyên) đã đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện cho chị Trương Thị B và anh Hoàng Văn M. Trước khi kết hôn chị có biết anh M trước đây đã có vợ, tuy nhiên anh M nói với chị là đã ly hôn, khi hai anh chị đến UBND xã để đăng ký kết hôn thì anh M có trình bày với cán bộ thực hiện việc đăng ký kết hôn là chỉ chung sống với một người không có đăng ký kết hôn và có một con chung, sau đó anh M xuất trình giấy chứng minh nhân dân và giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thể hiện anh M chưa đăng ký kết hôn lần nào nên UBND xã có thực hiện việc đăng ký kết hôn cho chị và anh M. Sau khi đăng ký kết hôn được khoảng 10 ngày thì chị phát hiện anh M đã có đăng ký kết hôn với một người phụ nữ khác ở tỉnh Đắk Lắk chưa ly hôn tại Tòa án, do hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên đến nay chị mới đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thái Nguyên giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị và anh M.
Về con chung: Chị Trương Thị B trình bày. Chị và anh Hoàng Văn M không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trương Thị B trình bày. Chị và anh Hoàng Văn M không có tài sản chung, nợ chung.
Tại Công văn số 678A/UBND-VP ngày 14/11/2025 của UBND xã T, tỉnh Thái Nguyên và đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. UBND xã T, tỉnh Thái Nguyên thống nhất và đồng ý với yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của chị Trương Thị Bích.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thái Nguyên trình bày phát biểu quan điểm về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết việc dân sự của Thẩm phán và việc chấp hành pháp luật của các đương sự và đề nghị Tòa án giải quyết chấp nhận yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của chị Trương Thị Bích .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự; ý kiến của các đương sự trong các biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thái Nguyên nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng: Người có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố hủy kết hôn trái pháp luật là chị Trương Thị Bích . Chị Trương Thị B cho rằng chị đã bị anh Hoàng Văn M lừa dối trong việc kết hôn đã vi phạm vào các hành vi bị cấm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do các đương sự có địa chỉ tại xã C và xã T, tỉnh Thái Nguyên, cơ quan đăng ký kết hôn là Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (Cũ) nay là xã T, tỉnh Thái Nguyên (sau sắp xếp) nên thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân khu vực 9 – Thái Nguyên theo quy định tại khoản 1 Điều 29; Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
2. Về nội dung: Căn cứ vào những chứng cứ đã thu thập được thấy rằng: Ngày 06/3/2019 khi chị Trương Thị B và anh Hoàng Văn M đến UBND xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (Cũ) nay là xã T, tỉnh Thái Nguyên (sau sắp xếp) đăng ký kết hôn, anh M đã xuất trình giấy chứng minh nhân dân và giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thể hiện anh chưa đăng ký kết hôn lần nào và đã được UBND xã cấp giấy chứng nhận kết hôn số 05 ngày 06/3/2019, tuy nhiên sau khi đăng ký kết hôn được 10 ngày thì chị B phát hiện anh M đã đăng ký kết hôn với chị Lãnh Thị L, sinh ngày 10/3/1997 trú tại thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk được thể hiện tại giấy chứng nhận kết hôn số 86.2014 quyển số 01.2014 ngày 15/9/2014 do UBND xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã T, tỉnh Đắk Lắk sau sắp xếp) cấp. Trong giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 269/2025/UBND-XNTTHN ngày 08/12/2025 của UBND xã T, tỉnh Đắk Lắk xác nhận “Hiện tại chị Lãnh Thị L đang có chồng là ông Hoàng Văn M theo giấy chứng nhận kết hôn số 86/2014 do UBND xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 15/9/2014".
Do vậy ngày 06/3/2019 chị Trương Thị Bích đăng K kết hôn với anh Hoàng Văn M khi đó anh Hoàng Văn M đã đăng ký kết hôn với chị Lãnh Thị L là vi phạm điều cấm theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, thời điểm đó anh M đã khai gian dối để đăng ký kết hôn với chị B dẫn đến vi phạm điểm b khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, do vậy chị Trương Thị B yêu cầu hủy giấy đăng ký kết hôn số 05 ngày 06/3/2019 giữa chị Trương Thị B và anh Hoàng Văn M của UBND xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (Cũ) nay là xã T, tỉnh Thái Nguyên (sau sắp xếp) là có căn cứ.
Về con chung: Chị Trương Thị B và anh Hoàng Văn M không có con chung, do vậy Tòa án không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trương Thị B trình bày không có, do vậy Tòa án không xem xét.
Căn cứ đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và ý kiến của UBND xã T, tỉnh Thái Nguyên, Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thái Nguyên căn cứ Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT - TANDTC-VKSNDTC - BTP ngày 06 tháng 3 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp để giải quyết vụ việc.
3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì người yêu cầu chị Trương Thị Bích P chịu lệ phí sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thái Nguyên tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 29; Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39; Điều 361, 370, 371, 372 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 8, 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của chị Trương Thị Bích.
- Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Trương Thị B và anh Hoàng Văn M tại Giấy chứng nhận kết hôn số 05 ngày 06/3/2019 của UBND xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (Cũ) nay là xã T, tỉnh Thái Nguyên (sau sắp xếp)
- Về con chung: Chị Trương Thị B và anh Hoàng Văn M không có con chung, do vậy Tòa án không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trương Thị B trình bày không có, do vậy Tòa án không xem xét.
- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Trương Thị Bích P chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm. Xác nhận chị B đã nộp đủ 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001752 ngày 24/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đã ký Hà Thanh Tuấn |
Quyết định số 02/2025/QÐST-VDS ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÁI NGUYÊN về hủy kết hôn trái pháp luật
- Số quyết định: 02/2025/QÐST-VDS
- Quan hệ pháp luật: Hủy kết hôn trái pháp luật
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Thị Bích ""Hủy kết hôn trái pháp luật""
