Ngày 29 tháng 3 năm 1990, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự năm 1990 nhằm điều chỉnh, bổ sung cơ cấu tổ chức, thẩm quyền và chức năng hoạt động của hệ thống Viện kiểm sát quân sự các cấp cho phù hợp với các quy định pháp luật hình sự và tố tụng hình sự thời kỳ này.
Pháp lệnh áp dụng đối với hệ thống Viện kiểm sát quân sự các cấp, cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự, các kiểm sát viên, điều tra viên quân sự, các cơ quan thi hành án, tòa án quân sự, cùng các cơ quan, đơn vị và cá nhân có liên quan trong hoạt động tố tụng quân sự.
Hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát quân sự
Pháp lệnh quy định cụ thể về cơ cấu các cấp của Viện kiểm sát quân sự bao gồm:
- Viện kiểm sát quân sự trung ương.
- Các viện kiểm sát quân sự Quân khu, Quân chủng, Quân đoàn, Tổng cục và cấp tương đương.
- Các viện kiểm sát quân sự tỉnh và cấp tương đương; các viện kiểm sát quân sự khu vực thuộc các quân khu, quân chủng, quân đoàn, tổng cục và cấp tương đương.
Nhiệm vụ, quyền hạn trong công tác kiểm sát điều tra, truy tố và xét xử
Pháp lệnh đã sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến hoạt động kiểm sát điều tra, truy tố và xét xử của Viện kiểm sát quân sự nhằm đồng bộ với Bộ luật tố tụng hình sự:
- Về kiểm sát điều tra và quyết định truy tố: Khi thực hiện công tác kiểm sát điều tra và quyết định việc truy tố, các viện kiểm sát quân sự có nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Điều 141 và Điều 142 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về kiểm sát xét xử: Viện kiểm sát quân sự có quyền tham gia tố tụng tại phiên tòa của Tòa án quân sự cùng cấp; trong phiên tòa, kiểm sát viên thực hiện đọc cáo trạng và luận tội. Đồng thời, có quyền yêu cầu Tòa án quân sự cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án cần thiết cho công tác kiểm sát xét xử.
- Về quyền kháng nghị: Có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với các bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cùng cấp và dưới một cấp khi phát hiện có vi phạm pháp luật. Kháng nghị các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm quy định tại Điều 244 và Điều 263 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Quyền tạm đình chỉ thi hành án: Khi thực hiện kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, Viện kiểm sát quân sự có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định bị kháng nghị.
Công tác kiểm sát thi hành án và thời hạn giải quyết khiếu nại, kiến nghị
Pháp lệnh quy định chặt chẽ về quyền hạn của Viện kiểm sát quân sự trong công tác thi hành án và trách nhiệm của các cơ quan liên quan:
- Quyền yêu cầu trong thi hành án: Yêu cầu cơ quan thi hành án, đơn vị hữu quan và nhân viên thi hành án tự kiểm tra việc thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự và thông báo kết quả kiểm tra; cung cấp tài liệu, văn bản hoặc xuất trình các hồ sơ, sổ sách, giấy tờ liên quan; thi hành các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà chưa được thi hành.
- Quyền kiến nghị, kháng nghị: Kiến nghị hoặc kháng nghị với các cơ quan, đơn vị hữu quan yêu cầu sửa đổi, bãi bỏ hoặc đình chỉ thi hành những văn bản, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc thi hành án; yêu cầu xử lý kỷ luật người chịu trách nhiệm về vi phạm; trường hợp có dấu hiệu phạm tội thì truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Thời hạn thực hiện yêu cầu: Các cơ quan, đơn vị hữu quan và nhân viên thi hành án có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu kiểm sát thi hành án trong thời hạn chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
- Giải quyết khiếu nại đối với quyết định kiểm sát: Đối với các quyết định bắt buộc chấp hành nhưng có quyền khiếu nại, cơ quan hoặc người có trách nhiệm vẫn phải chấp hành ngay, nhưng có quyền khiếu nại lên Viện kiểm sát quân sự cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp trên trực tiếp phải xem xét và giải quyết.
- Thời hạn trả lời kiến nghị, kháng nghị: Cơ quan, đơn vị hữu quan có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời kiến nghị, kháng nghị trong thời hạn chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày nhận. Trường hợp đặc biệt cần thời hạn dài hơn phải được sự đồng ý của Viện kiểm sát quân sự. Nếu không nhất trí, cơ quan, đơn vị phải nêu rõ lý do và có quyền yêu cầu Viện kiểm sát quân sự cấp trên trực tiếp xét lại; Viện kiểm sát quân sự cấp trên phải xem xét, quyết định trong thời hạn chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu.
Cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát quân sự
Hoạt động điều tra hình sự của Viện kiểm sát quân sự được quy định rõ ràng về thẩm quyền và mô hình tổ chức:
- Thẩm quyền điều tra: Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự thực hiện điều tra những vụ án quy định tại Điều 18 của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự. Khi tiến hành điều tra, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra và điều tra viên có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 94 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 22, Điều 24 của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự.
- Hệ thống tổ chức cơ quan điều tra: Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự gồm có Phòng điều tra của Viện kiểm sát quân sự trung ương và Ban điều tra của Viện kiểm sát quân sự Quân khu, Quân chủng, Quân đoàn, Tổng cục và cấp tương đương.
Tiêu chuẩn và phân cấp đối với Kiểm sát viên và Điều tra viên quân sự
Pháp lệnh chuẩn hóa đội ngũ cán bộ tư pháp trong quân đội thông qua các tiêu chuẩn bổ nhiệm và phân cấp ngạch bậc:
- Đối với Kiểm sát viên: Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 3 Điều 26 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân thì có thể được bổ nhiệm làm kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự. Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự được phân thành 3 cấp: Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp và Kiểm sát viên sơ cấp.
- Đối với Điều tra viên: Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 23 và Điều 25 của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự thì có thể được bổ nhiệm làm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, điều tra viên cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự. Điều tra viên được phân thành 3 cấp: Điều tra viên cao cấp, Điều tra viên trung cấp và Điều tra viên sơ cấp.
Hiệu lực thi hành và hướng dẫn thực hiện
Pháp lệnh có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành (ngày 29 tháng 3 năm 1990). Hội đồng Nhà nước giao Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành chi tiết các nội dung của Pháp lệnh này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 36-LCT/HĐNN8 | Hà Nội, ngày 29 tháng 03 năm 1990 |
Căn cứ vào Điều 100 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Căn cứ vào Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào nhiệm vụ và tổ chức của Quân đội nhân dân Việt Nam;
Pháp lệnh này sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự ngày 21 tháng 12 năm 1985.
Sửa đổi, bổ sung một số điều như sau:
1- Điều 2 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 2
Các Viện kiểm sát quân sự gồm có:
- Viện kiểm sát quân sự trung ương;
- Các viện kiểm sát quân sự Quân khu, Quân chủng, Quân đoàn, Tổng cục và cấp tương đương;
- Các viện kiểm sát quân sự tỉnh và cấp tương đương; các viện kiểm sát quân sự khu vực thuộc các quân khu, quân chủng, quân đoàn, tổng cục và cấp tương đương.
2- Bỏ 3 điều 11, 12 và 13 thay bằng Điều 11 mới như sau:
Điều 11
Khi thực hiện công tác kiểm sát điều tra, quyết định việc truy tố, các viện kiểm sát quân sự có nhiệm vụ và quyền hạn nói ở Điều 141 và Điều 142 của Bộ luật tố tụng hình sự.
3- Điều 15 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 15
Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử, các viện kiểm sát quân sự có quyền:
1- Tham gia tố tụng tại phiên toà của Toà án quân sự cùng cấp; trong phiên toà, kiểm sát viên đọc cáo trạng và luận tội;
2- Yêu cầu Toà án quân sự cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án cần thiết cho công tác kiểm sát xét xử;
3- Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự cùng cấp và dưới một cấp khi thấy có vi phạm pháp luật;
4- Kháng nghị các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm nói ở Điều 244 và Điều 263 của Bộ luật tố tụng hình sự;
5- Khi kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, Viện kiểm sát quân sự có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định bị kháng nghị.
4- Khoản 1 và khoản 3, Điều 18 được sửa đổi, bổ sung như sau:
1- Khoản 1:
Yêu cầu cơ quan thi hành án, đơn vị hữu quan và nhân viên thi hành án:
a) Tự kiểm tra việc thi hành các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát quân sự biết;
b) Cung cấp những tài liệu, văn bản hoặc xuất trình các hồ sơ, sổ sách, giấy tờ có liên quan đến việc thi hành án;
c) Thi hành các bản án và quyết định của Toà án quân sự đã có hiệu lực pháp luật mà chưa được thi hành.
2- Khoản 3:
Kiến nghị hoặc kháng nghị với các cơ quan, đơn vị hữu quan, yêu cầu sửa đổi, bãi bỏ hoặc đình chỉ thi hành những văn bản, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc thi hành án, xử lý kỷ luật người chịu trách nhiệm về việc vi phạm pháp luật đó; trong trường hợp phạm tội thì truy cứu trách nhiệm hình sự.
5- Đoạn 1, Điều 19 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Các cơ quan, đơn vị hữu quan và nhân viên thi hành án có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu nói ở điểm 1, Điều 18 của Pháp lệnh này trong thời hạn chậm nhất là ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
6- Đoạn 2 và đoạn 3, Điều 22 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Đối với các quyết định nói ở điểm 6, Điều 21 của Pháp lệnh này, trong trường hợp không nhất trí thì cơ quan hoặc người có trách nhiệm vẫn phải chấp hành ngay, nhưng có quyền khiếu nại lên Viện kiểm sát quân sự cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn hai mươi ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp trên trực tiếp phải xem xét và giải quyết khiếu nại.
Đối với các kiến nghị, kháng nghị nói ở điểm 7, Điều 21 của Pháp lệnh này, cơ quan, đơn vị hữu quan có trách nhiệm nghiên cứu, và trả lời trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị, kháng nghị. Trong trường hợp đặc biệt cần có thời hạn dài hơn thì phải được sự đồng ý của Viện kiểm sát quân sự. Nếu không nhất trí với các kiến nghị, kháng nghị đó thì các cơ quan, đơn vị hữu quan phải nói rõ lý do và có quyền yêu cầu Viện kiểm sát quân sự cấp trên trực tiếp xét lại; Viện kiểm sát quân sự cấp trên phải xét và quyết định trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
7- Điều 23 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 23
Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự điều tra những vụ án nói ở Điều 18 của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự.
8- Điều 24 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 24
Khi tiến hành điều tra các vụ án hình sự, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra và điều tra viên của Viện kiểm sát quân sự có nhiệm vụ và quyền hạn nói ở Điều 94 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 22, Điều 24 của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự.
9- Điều 28 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 28:
Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự gồm có:
- Phòng điều tra của Viện kiểm sát quân sự trung ương;
- Ban điều tra của Viện kiểm sát quân sự Quân khu, Quân chủng, Quân đoàn, Tổng cục và cấp tương đương.
10- Khoản 1 và đoạn 1, khoản 2, Điều 31 được sửa đổi, bổ sung như sau:
1- Khoản 1:
Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam có đủ tiêu chuẩn nói ở khoản 3, Điều 26 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân thì có thể được bổ nhiệm làm kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự.
2- Đoạn 1, khoản 2:
Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự có 3 cấp: Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viện trung cấp và Kiểm sát viên sơ cấp.
11- Bổ sung Điều 31a như sau:
Điều 31a
1- Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam có đủ tiêu chuẩn nói ở Điều 23 và Điều 25 của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự thì có thể được bổ nhiệm làm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, điều tra viên cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự.
2- Điều tra viên Viện kiểm sát quân sự có 3 cấp: Điều tra viên cao cấp, Điều tra viên trung cấp và Điều tra viên sơ cấp.
Hà Nội, ngày 29 tháng 3 năm 1990
|
| Võ Chí Công (Đã ký) |
Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự năm 1990 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- Số hiệu: 36-LCT/HĐNN8
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 29/03/1990
- Nơi ban hành: Hội đồng Nhà nước
- Người ký: Võ Chí Công
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 8
- Ngày hiệu lực: 09/04/1990
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
