Pháp lệnh Sửa đổi Pháp lệnh Thuế Nông nghiệp được Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 30 tháng 01 năm 1989 nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh về thuế nông nghiệp ngày 25 tháng 2 năm 1983, điều chỉnh chính sách thuế đối với đất nông nghiệp, đất ở và các loại cây trồng nhằm phù hợp với tình hình thực tế và Luật Đất đai thời kỳ này.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp bao gồm hợp tác xã nông nghiệp, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, hộ nông dân cá thể, nông trường, lâm trường, trạm trại quốc doanh, cán bộ, công nhân viên chức nhận đất làm kinh tế gia đình, và các tổ chức, cá nhân khác có hoạt động sử dụng đất nông nghiệp hoặc sở hữu đất ở vượt hạn mức.
Sửa đổi quy định về thuế đối với đất ở vượt hạn mức
- Đất ở trong hạn mức quy định giao cho mỗi hộ nông dân ở từng vùng theo Điều 35 của Luật Đất đai được miễn thuế nông nghiệp.
- Trường hợp diện tích đất ở thực tế của hộ nông dân vượt quá hạn mức quy định thì phần diện tích vượt mức phải chịu thuế nông nghiệp theo quy định pháp luật.
Thuế suất đối với đất trồng cây công nghiệp ngắn ngày và cây dược liệu
- Đất trồng cây công nghiệp ngắn ngày: Áp dụng mức thuế suất 10% tính trên sản lượng hàng năm.
- Đất trồng cây dược liệu đặc biệt: Áp dụng mức thuế suất 20% tính trên sản lượng hàng năm.
- Đất trồng cây dược liệu khác: Tính thuế như đất trồng cây hàng năm theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 của Pháp lệnh năm 1983.
Biểu thuế đối với đất vườn và đất trồng cây lâu năm
Thuế nông nghiệp đối với đất vườn và đất trồng cây lâu năm được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) trên sản lượng hoặc giá trị sản lượng hàng năm, phân loại cụ thể theo từng nhóm cây trồng:
- Cây công nghiệp lâu năm: Mức thuế là 14% đối với cây có giá trị kinh tế cao và 12% đối với các loại cây công nghiệp lâu năm khác.
- Cây ăn quả: Mức thuế là 20% đối với cây ăn quả đặc sản có giá trị kinh tế cao; 16% đối với cây ăn quả khác; riêng vườn cây ăn quả do các cụ phụ lão trong hợp tác xã, tập đoàn sản xuất hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý áp dụng mức thuế 14%.
- Cây lấy lá, lấy gỗ: Mức thuế là 15% đối với loại có giá trị kinh tế cao và 10% đối với các loại khác.
- Cây lâu năm khác: Áp dụng mức thuế suất chung là 12%.
- Thẩm quyền xác định sản lượng: Ủy ban nhân dân cấp xã xác định sản lượng hoặc giá trị sản lượng hàng năm dưới sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cấp huyện; sau khi được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt thì được dùng làm căn cứ tính thuế.
Quy định tính thuế đối với các đối tượng sử dụng đất khác nhau
- Đối với hợp tác xã, tập đoàn sản xuất và hộ cá thể: Thuế được tính theo quy định chung về đất nông nghiệp. Phần đất vườn, đất trồng cây lâu năm giao lại cho xã viên, tập đoàn viên làm kinh tế gia đình và phần đất ở vượt hạn mức cũng được tính thuế tương tự như đất do hợp tác xã, tập đoàn sản xuất sử dụng.
- Đối với nông trường, lâm trường, trạm trại quốc doanh: Phải nộp thuế nông nghiệp đối với diện tích đất được giao sử dụng vào sản xuất nông nghiệp. Phần đất giao lại cho cán bộ, công nhân, viên chức làm kinh tế gia đình cũng chịu mức thuế tương tự.
- Đối với các tổ chức và cá nhân khác: Toàn bộ diện tích đất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp đều phải tính thuế theo các quy định sửa đổi bổ sung của Pháp lệnh này và Pháp lệnh năm 1983.
Bãi bỏ chế độ phụ thu và điều chỉnh chính sách miễn, giảm thuế
- Bãi bỏ hoàn toàn chế độ phụ thu đối với hộ nông dân sản xuất cá thể quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh năm 1983.
- Bỏ các quy định liên quan đến việc miễn phụ thu khi đời sống gặp khó khăn tại Điều 17 của Pháp lệnh năm 1983.
- Chính sách miễn, giảm thuế mới: Hộ nông dân thuộc đồng bào dân tộc thiểu số và hộ nông dân nghèo tại các vùng căn cứ kháng chiến cũ đang gặp nhiều khó khăn trong đời sống sẽ được xem xét miễn hoặc giảm thuế nông nghiệp. Thủ tục yêu cầu phải có sự xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã và được Ủy ban nhân dân cấp huyện xét duyệt.
Điều khoản thi hành và hiệu lực pháp luật
Pháp lệnh này được ban hành ngày 30 tháng 01 năm 1989 bởi Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công. Hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các nội dung của Pháp lệnh này trên phạm vi cả nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 15-LCT/HĐNN8 | Hà Nội, ngày 30 tháng 1 năm 1989 |
Căn cứ vào Điều 83 và Điều 100 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội khoá VII, kỳ họp thứ 4, ngày 28 tháng 12 năm 1982;
Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 4 về Dự toán ngân sách Nhà nước năm 1989;
Pháp lệnh này sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh về thuế nông nghiệp ngày 25 tháng 2 năm 1983.
Sửa đổi Điều 6 của Pháp lệnh về thuế nông nghiệp ngày 25 tháng 2 năm 1983 như sau:
Điều 6 (mới)
Mức đất ở quy định giao cho mỗi hộ nông dân ở từng vùng tại Điều 35 của Luật đất đai không phải chịu thuế nông nghiệp. Nếu mức đất ở của mỗi hộ nông dân vượt quá mức quy định thì phần đất vượt mức phải chịu thuế nông nghiệp.
Khoản 2 (mới) của Điều 8
a) Đất trồng cây công nghiệp ngắn ngày chịu thuế suất 10% trên sản lượng hàng năm;
b) Đất trồng cây dược liệu đặc biệt chịu thuế suất 20% trên sản lượng hàng năm;
c) Đất trồng cây dược liệu khác chịu thuế như đất trồng cây hàng năm quy định tại khoản 1 Điều 8 của Pháp lệnh về thuế nông nghiệp ngày 25 tháng 2 năm 1983.
Sửa đổi Điều 9 của Pháp lệnh về thuế nông nghiệp ngày 25 tháng 2 năm 1983 như sau:
Thuế nông nghiệp đối với đất vườn, đất trồng cây lâu năm tính theo tỷ lệ (%) trên sản lượng hoặc giá trị sản lượng hàng năm tuỳ theo loại cây trồng.
1- Cây công nghiệp lâu năm:
a) Cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao 14%
b) Cây công nghiệp lâu năm khác 12%
2- Cây ăn quả:
a) Cây ăn quả đặc sản có giá trị kinh tế cao 20%
b) Cây ăn quả khác 16%
c) Vườn cây ăn quả do các cụ phụ lão trong
hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp
hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường quản lý 14%
3- Cây lấy lá, lấy gỗ:
a) Cây lấy lá, lấy gỗ có giá trị kinh tế cao 15%
b) Cây lấy lá, lấy gỗ khác 10%
4- Cây lâu năm khác 12%.
Sản lượng hoặc giá trị sản lượng hàng năm của từng loại cây do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác định dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; sau khi được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương duyệt, thì được dùng làm căn cứ tính thuế.
Sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh về thuế nông nghiệp ngày 25 tháng 2 năm 1983 như sau:
Điều 10 (mới)
Đối với đất do hợp tác xã nông nghiệp, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, hộ nông dân cá thể sử dụng, thuế tính theo quy định tại Điều 7, Điều 8 của Pháp lệnh về thuế nông nghiệp ngày 25 tháng 2 năm 1983 và Điều 2, Điều 3 của Pháp lệnh này.
Đối với phần đất, kể cả đất vườn, đất trồng cây lâu năm giao lại cho xã viên, tập đoàn viên để làm kinh tế gia đình và đất ở vượt mức quy định tại Điều 35 của Luật đất đai, thuế tính như đối với đất do hợp tác xã, tập đoàn sản xuất sử dụng.
Sửa đổi Điều 11 của Pháp lệnh về thuế nông nghiệp ngày 25 tháng 2 năm 1983 như sau:
Đối với đất do nông trường, lâm trường và các trạm trại quốc doanh được giao sử dụng vào sản xuất nông nghiệp thì phải chịu thuế nông nghiệp và thuế tính theo quy định tại Điều 7, Điều 8 của Pháp lệnh về thuế nông nghiệp ngày 25 tháng 2 năm 1983 và Điều 2, Điều 3 của Pháp lệnh này.
Đối với phần đất giao lại cho cán bộ, công nhân, viên chức nông trường, lâm trường, trạm trại quốc doanh để làm kinh tế gia đình, thì thuế tính như đối với đất do các nông trường, lâm trường và trạm trại quốc doanh được giao sử dụng.
Sửa đổi Điều 13 của Pháp lệnh về thuế nông nghiệp ngày 25 tháng 2 năm 1983 như sau:
Điều 13 (mới)
Đối với đất do các tổ chức và cá nhân khác sử dụng để sản xuất nông nghiệp, thuế tính theo quy định tại Điều 7, Điều 8 Pháp lệnh thuế nông nghiệp ngày 25 tháng 2 năm 1983 và Điều 2, Điều 3 của Pháp lệnh này.
Đối với những hộ nông dân thuộc dân tộc thiểu số và những hộ nông dân nghèo ở vùng căn cứ kháng chiến cũ mà hiện nay đời sống có nhiều khó khăn, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận và Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét duyệt thì được giảm hoặc miễn thuế.
Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.
Hà Nội, ngày 30 tháng 1 năm 1989
|
| Võ Chí Công (Đã ký) |
- 1Hiến pháp năm 1980
- 2Nghị định 52-HĐBT năm 1989 thi hành Pháp lệnh Thuế Nông nghiệp và Pháp lệnh thuế nông nghiệp sửa đổi do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3Thông tư 56-TC/TCT năm 1990 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh về thuế nông nghiệp và Nghị định 52-HĐBT 1989 về thuế nông nghiệp đối với nông trường, lâm trường và các trại, trạm quốc doanh do Bộ Tài chính ban hành
- 4Nghị định 19-HĐBT năm 1992 Hướng dẫn giảm thuế, miễn thuế nông nghiệp do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 5Nghị quyết về việc dự toán ngân sách nhà nước năm 1989 do Quốc hội ban hành
Pháp lệnh Sửa đổi Pháp lệnh Thuế Nông nghiệp năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- Số hiệu: 15-LCT/HĐNN8
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 30/01/1989
- Nơi ban hành: Hội đồng Nhà nước
- Người ký: Võ Chí Công
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 14
- Ngày hiệu lực: 11/02/1989
- Ngày hết hiệu lực: 01/01/1994
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
