Nghị định 90-CP được Chính phủ ban hành năm 1995 nhằm hướng dẫn chi tiết các quy định của Bộ luật Lao động về hoạt động học nghề, đào tạo nghề và bổ túc nghề tại Việt Nam. Văn bản này thiết lập hành lang pháp lý quan trọng khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đào tạo nghề, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người học nghề và người sử dụng lao động.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định áp dụng đối với các cơ sở dạy nghề thuộc doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân dạy nghề hoặc bổ túc nghề cho người lao động; các cơ sở dạy nghề gắn với tạo việc làm của Trung tâm dịch vụ việc làm. Nghị định này loại trừ hệ thống trường nghề chính quy và các cơ sở đào tạo dài hạn, ngắn hạn do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý. Mọi cá nhân đều có quyền tự do lựa chọn nghề và nơi học nghề, riêng người dưới 13 tuổi chỉ được học một số nghề cụ thể theo danh mục của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Điều kiện thành lập và đăng ký hoạt động của cơ sở dạy nghề
- Đối với cơ sở dạy nghề tổ chức theo lớp học: Phải bảo đảm đầy đủ phòng học, cơ sở thực hành, thiết bị giảng dạy đạt trình độ đăng ký, đáp ứng tiêu chuẩn an toàn và vệ sinh lao động. Nếu nhận dạy nghề cho người tàn tật, phải trang bị phương tiện phù hợp với từng dạng khuyết tật. Người dạy lý thuyết phải tốt nghiệp trung học kỹ thuật hoặc nghiệp vụ và có năng lực sư phạm. Người hướng dẫn thực hành phải là công nhân có trình độ cao hơn mục tiêu đào tạo ít nhất hai bậc, nghệ nhân, chuyên gia hoặc kỹ sư thực hành. Chương trình giảng dạy phải phù hợp với chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Đối với cơ sở dạy nghề theo hình thức kèm cặp tại xưởng, tại nhà (có thu học phí): Phải có địa điểm, trang thiết bị thực hành bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; có người hướng dẫn thực hành thành thạo nghề và cung cấp đủ công cụ, nguyên vật liệu cho người học.
- Thủ tục đăng ký: Các cơ sở dạy nghề phải đăng ký hoạt động và xin cấp giấy phép tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội. Trường hợp ngoại lệ không phải xin phép bao gồm: cơ sở kèm cặp dưới 10 người học tại nhà hoặc tại xưởng (chỉ cần báo cáo UBND cấp xã, phường và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội) và doanh nghiệp tự mở lớp đào tạo nội bộ cho người lao động của mình.
- Thay đổi và chấm dứt hoạt động: Mọi thay đổi, bổ sung nội dung hoạt động phải đăng ký bổ sung. Khi chấm dứt hoạt động, cơ sở phải báo cáo và nộp lại giấy phép cho cơ quan cấp phép.
Quyền hạn, trách nhiệm và hình thức đào tạo
- Hình thức đào tạo đa dạng: Cơ sở dạy nghề được tổ chức học lý thuyết và thực hành theo lớp; kèm cặp tại xưởng, tại nhà theo phương thức vừa học vừa làm; chuyển giao công nghệ hoặc phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật mới. Các hình thức này phải được cụ thể hóa bằng hợp đồng học nghề.
- Cấp chứng chỉ nghề: Giám đốc cơ sở dạy nghề có tư cách pháp nhân hoặc giám đốc doanh nghiệp có cơ sở dạy nghề có quyền cấp chứng chỉ trình độ nghề cho học viên sau khi hoàn thành khóa học, tuân thủ quy chế và mẫu chứng chỉ do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
- An toàn lao động: Cả cơ sở dạy nghề và người học phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động theo quy định của Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn liên quan.
- Hoạt động sản xuất phụ trợ: Cơ sở dạy nghề được phép tổ chức xưởng sản xuất, dịch vụ tận dụng nguyên vật liệu, máy móc để phục vụ thực tập. Doanh thu từ các hoạt động này phải thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định pháp luật.
Chính sách ưu đãi thuế, học phí và hỗ trợ tài chính
- Ưu đãi thuế: Giảm thuế cho các cơ sở dạy nghề tiếp nhận người tàn tật, người dân tộc thiểu số, đối tượng tệ nạn xã hội, cơ sở tại vùng có tỷ lệ thất nghiệp cao hoặc dạy nghề truyền thống. Miễn thuế hoàn toàn cho các cơ sở chuyên biệt dành riêng cho người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, người dân tộc thiểu số, đối tượng tệ nạn xã hội và hình thức kèm cặp tại nhà hoặc tại xưởng.
- Hỗ trợ vốn vay và đầu tư: Cơ sở dạy nghề cho người tàn tật được vay vốn lãi suất thấp từ Quỹ việc làm cho người tàn tật cấp tỉnh. Các cơ sở chuyên biệt cho đối tượng yếu thế được Nhà nước đầu tư xây dựng trường lớp, mua sắm trang thiết bị và đào tạo giáo viên. Cơ sở dạy nghề thuộc Trung tâm dịch vụ việc làm được vay hoặc cấp kinh phí từ Quỹ quốc gia về việc làm.
- Sử dụng quỹ doanh nghiệp: Doanh nghiệp được dùng Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm để chi trả chi phí đào tạo lại cho người lao động phải chuyển đổi nghề nghiệp do thay đổi công nghệ, cơ cấu sản xuất hoặc đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ, tuyệt đối không được thu học phí của các đối tượng này.
- Học phí và miễn giảm: Học phí do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng. Miễn, giảm học phí cho người học là Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động, thương binh, thân nhân liệt sĩ, người có công và người tàn tật theo các quy định hiện hành của Chính phủ.
Quy định về hợp đồng học nghề
- Hình thức hợp đồng: Phải lập thành văn bản chia làm hai bản có giá trị như nhau. Đối với khóa học dưới 15 ngày, các bên có thể giao kết bằng miệng.
- Nội dung bắt buộc: Hợp đồng phải ghi rõ tên nghề, mục tiêu đào tạo (trình độ đạt được, sản phẩm làm ra), thời gian học lý thuyết và thực hành, thiết bị thực tập, địa điểm học, mức học phí và phương thức thanh toán, cam kết việc làm sau khóa học và trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi vi phạm hợp đồng.
- Trường hợp doanh nghiệp tuyển người vào đào tạo để sử dụng: Người học không phải đóng học phí. Hợp đồng phải bổ sung cam kết về thời hạn làm việc cho doanh nghiệp sau khi tốt nghiệp và mức tiền công thỏa thuận khi người học trực tiếp làm ra sản phẩm trong quá trình học.
- Hình thức kèm cặp tại nhà, tại xưởng: Hợp đồng phải ghi rõ thời điểm bắt đầu trả công và mức tiền công cụ thể cho người học theo từng giai đoạn dựa trên giá trị làm lợi thực tế.
Trách nhiệm bồi thường và xử lý khi chấm dứt hợp đồng học nghề
- Người học đơn phương chấm dứt hợp đồng: Không được hoàn trả học phí đã nộp. Tuy nhiên, nếu chấm dứt do thực hiện nghĩa vụ quân sự, bệnh tật, qua đời hoặc do lỗi vi phạm hợp đồng của cơ sở dạy nghề thì được hoàn trả phần học phí tương ứng với thời gian học còn lại.
- Cơ sở dạy nghề đơn phương chấm dứt hợp đồng: Phải báo cáo cơ quan quản lý nhà nước. Nếu do nguyên nhân bất khả kháng (được xác nhận), cơ sở không phải trả lại học phí. Nếu do nguyên nhân khác, cơ sở phải hoàn trả toàn bộ học phí đã thu của người học.
- Trường hợp đào tạo để làm việc cho doanh nghiệp:
- Người học tự ý bỏ học hoặc không thực hiện đúng cam kết về thời hạn làm việc sau đào tạo phải bồi thường chi phí dạy nghề (bao gồm chi phí cho giáo viên, tài liệu, khấu hao nhà xưởng, máy móc và vật liệu thực hành) theo mức thỏa thuận trước trong hợp đồng.
- Nếu doanh nghiệp không ký hợp đồng lao động với người học sau khi hoàn thành khóa học, người học không phải bồi thường chi phí và có quyền ký hợp đồng lao động với đơn vị khác.
- Lao động nữ mang thai có chứng nhận y tế về việc học nghề ảnh hưởng xấu đến thai nhi được quyền chấm dứt hợp đồng học nghề mà không phải bồi thường chi phí đào tạo.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 90-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các quy định trước đây về cơ sở dạy nghề trái với Bộ luật Lao động và Nghị định này đều bị bãi bỏ. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành văn bản này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 90-CP | Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 1995 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Bộ luật lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,
NGHỊ ĐỊNH
Điều 1.- Cơ sở dạy nghề nói trong Nghị định này gồm:
1. Cơ sở của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân dạy nghề, bổ túc nghề cho người có nhu cầu học nghề để tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm;
2. Cơ sở của các doanh nghiệp dạy nghề, bổ túc nghề cho người lao động đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh, thay đổi cơ cấu sản xuất hoặc công nghệ của doanh nghiệp;
3. Cơ sở dạy nghề gắn với tạo việc làm của các Trung tâm dịch vụ việc làm.
Hệ thống trường nghề chính quy và các cơ sở dạy nghề đào tạo dài hạn, ngắn hạn do Bộ Giáo dục và Đào tạo đang quản lý không thuộc phạm vi áp dụng Nghị định này.
1. Cơ sở dạy nghề được tổ chức thành lớp học thì phải có đủ các điều kiện dưới đây:
a. Có phòng học, cơ sở thực hành, thiết bị, phương tiện bảo đảm giảng dạy lý thuyết, thực hành đạt trình độ nghề đã được đăng ký, bảo đảm các điều kiện về an toàn lao động và vệ sinh lao động. Nếu nhận dạy nghề cho người tàn tật thì phải có thiết bị, phương tiện dạy nghề phù hợp với từng loại khuyết tật của người tàn tật;
b. Người dạy nghề phải có các tiêu chuẩn dưới đây:
Người dạy lý thuyết ít nhất phải có bằng tốt nghiệp trung học kỹ thuật, nghiệp vụ, có năng lực sư phạm;
Người hướng dẫn thực hành là công nhân có trình độ nghề cao hơn hai bậc trở lên, so với trình độ nghề quy định trong mục tiêu đào tạo, có kỹ năng thực hành nghề thành thạo, hoặc là nghệ nhân, chuyên gia, kỹ sư thực hành;
c. Có chương trình, giáo trình phù hợp với chương trình, giáo trình chuẩn do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định và mục tiêu đào tạo.
2. Cơ sở dạy nghề có thu học phí theo hình thức kèm cặp tại xưởng, tại nhà phải có đủ điều kiện dưới đây:
a. Địa điểm và trang thiết bị thực hành nghề phù hợp với nghề dạy, bảo đảm các điều kiện về an toàn lao động và vệ sinh lao động;
b. Có người hướng dẫn thực hành thành thạo nghề;
c. Có đủ công cụ và nguyên vật liệu để người học thực hành.
1. Cơ sở dạy nghề có dưới 10 người học theo hình thức kèm cặp tại xưởng, tại nhà phải báo cho phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội và Uỷ ban nhân dân phường, xã sở tại;
2. Doanh nghiệp mở cơ sở dạy nghề, bổ túc nghề, đào tạo lại nghề cho người lao động của doanh nghiệp để chuyển sang làm nghề khác trong doanh nghiệp; hoặc dạy nghề cho người mới tuyển để sau đó làm việc cho doanh nghiệp mình.
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CƠ SỞ DẠY NGHỀ
Giám đốc cơ sở dạy nghề có tư cách pháp nhân hoặc giám đốc doanh nghiệp có cơ sở dạy nghề được quyền cấp chứng chỉ trình độ nghề cho những người đã học nghề sau khoá học trên cơ sở bảo đảm quy chế cấp chứng chỉ và theo mẫu chứng chỉ do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.
Các hình thức và nội dung dạy nghề trên được thực hiện theo hợp đồng ký giữa người học, đơn vị cử người đến học với cơ sở dạy nghề.
2. Cơ sở của các doanh nghiệp dạy nghề, bổ túc nghề, đào tạo lại nghề cho người lao động của doanh nghiệp có thể ký hợp đồng với các cơ sở dạy nghề khác để dạy nghề, bổ túc nghề, đào tạo lại nghề cho người lao động. Hoạt động dạy nghề trên phải tuân theo những quy định chung đối với cơ sở dạy nghề.
2. Cơ sở dạy nghề dành riêng cho người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, người dân tộc thiểu số, đối tượng tệ nạn xã hội; dạy nghề theo hình thức kèm cặp tại xưởng, tại nhà được miễn thuế.
Bộ Tài chính quy định cụ thể việc xét giảm, miễn thuế nói trên.
Cơ sở dạy nghề dành riêng cho người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, người dân tộc thiểu số được Chính phủ đầu tư xây dựng trường, lớp; mua sắm thiết bị, phương tiện dạy học; đào tạo đội ngũ thầy giáo và được vay vốn với lãi suất thấp.
1. Hợp đồng học nghề ở các cơ sở dạy nghề cần ghi rõ:
a. Tên nghề học;
b. Mục tiêu học: Trình độ nghề phải đạt được; những việc phải làm được; những sản phẩm có thể làm ra sau khi học xong;
c. Thời gian học lý thuyết và thực hành;
d. Loại máy móc thiết bị dùng cho thực tập, cách tổ chức thực tập, phương tiện an toàn lao động, vệ sinh lao động;
đ. Nơi học và thực tập;
e. Số học phí phải trả; mức học phí được miễn, hoặc giảm (nếu có), cách trả học phí;
g. Việc làm sau khi học xong do cơ sở dạy nghề chịu trách nhiệm hoặc do người học tự lo;
h. Bồi thường phí học nghề khi vi phạm hợp đồng học nghề theo quy định tại
2. Doanh nghiệp tuyển người vào học nghề để sau đó làm việc cho doanh nghiệp thì người học không phải đóng học phí. Trong trường hợp này, hợp đồng học nghề không có điểm e, g tại khoản 1 Điều này và phải bổ sung thêm:
a. Thời gian phải làm việc cho doanh nghiệp sau khi học xong;
Mức tiền công trả cho người học nghề khi họ trực tiếp hoặc tham gia làm ra sản phẩm cho doanh nghiệp trong thời gian học nghề. Mức tiền công được xác định căn cứ vào giá trị làm lợi và do hai bên thoả thuận.
3. Hợp đồng học nghề ở các cơ sở dạy nghề theo hình thức kèm cặp tại xưởng, tại nhà, ngoài nội dung nêu ở khoản 1 Điều này, cần ghi rõ thời gian bắt đầu trả công và mức tiền công trả cho người học theo từng thời gian. Mức tiền công được xác định căn cứ vào giá trị làm lợi và do hai bên thoả thuận.
2. Nếu cơ sở dạy nghề đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn thì phải báo cho cơ quan quản lý Nhà nước về học nghề biết rõ nguyên nhân. Nếu cơ quan này xác nhận là do nguyên nhân bất khả kháng thì cơ sở dạy nghề không phải trả lại cho người học nghề số học phí đã nhận. Nếu do các nguyên nhân khác thì cơ sở dạy nghề phải trả lại cho người học nghề toàn bộ học phí đã nhận.
Điều 19.- Trường hợp doanh nghiệp tuyển người vào học nghề để sau đó làm việc cho doanh nghiệp:
2. Trong trường hợp doanh nghiệp không giao kết hợp đồng lao động với người học nghề thì người học nghề không phải bồi thường phí dạy nghề và được quyền ký hợp đồng lao động với người khác;
3. Người học nghề là nữ, trong quá trình thực hiện hợp đồng học nghề với doanh nghiệp mà có thai, nếu có giấy chứng nhận của thầy thuốc về việc thực hiện hợp đồng học nghề sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì không phải bồi thường phí dạy nghề, khi chấm dứt hợp đồng.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
- 1Luật Tổ chức Chính phủ 1992
- 2Bộ luật Lao động 1994
- 3Nghị định 06/CP năm 1995 Hướng dẫn Bộ Luật lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động
- 4Nghị định 81-CP năm 1995 hướng dẫn Bộ Luật lao động về lao động là người tàn tật
- 5Thông tư 22/GD-ĐT-1996 hướng dẫn Nghị định 90/CP-1995 hướng dẫn Bộ luật lao động về học nghề do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
- 6Thông tư 18/LĐTBXH-TT-1996 hướng dẫn thực hiện quy hoạch hệ thống cơ sở dạy nghề do Bộ Lao động, thương binh và xã hội ban hành
- 7Quyết định 1114/LĐTBXH-QĐ năm 1996 về Quy chế hoạt động của cơ sở dạy nghề do Bộ trưởng Bộ lao động Thươnng binh và Xã hội ban hành
Nghị định 90-CP năm 1995 hướng dẫn Bộ Luật lao động về học nghề
- Số hiệu: 90-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 15/12/1995
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 5
- Ngày hiệu lực: 15/12/1995
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
