Nghị định 198-CP được ban hành ngày 31 tháng 12 năm 1994 bởi Chính phủ nhằm hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc điều chỉnh các quan hệ lao động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cả người lao động và người sử dụng lao động trong giai đoạn đầu thực hiện Bộ luật Lao động năm 1994.
Phạm vi và đối tượng áp dụng quy định về hợp đồng lao động
Nghị định quy định chi tiết các đối tượng bắt buộc phải thực hiện giao kết hợp đồng lao động cũng như các trường hợp ngoại lệ không áp dụng hình thức này:
- Các trường hợp bắt buộc phải giao kết hợp đồng lao động: bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã (đối với người lao động không phải là xã viên), cá nhân và hộ gia đình có thuê mướn lao động. Quy định này cũng áp dụng cho các cơ quan hành chính, sự nghiệp, đoàn thể nhân dân, tổ chức chính trị - xã hội sử dụng lao động không phải là công chức, viên chức Nhà nước; các tổ chức kinh tế thuộc lực lượng vũ trang sử dụng lao động không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ; các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp; tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế đóng tại Việt Nam; doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân Việt Nam sử dụng lao động nước ngoài; và các trường hợp sử dụng lao động là người nghỉ hưu, người giúp việc gia đình hoặc công chức, viên chức làm những công việc mà quy chế không cấm.
- Các trường hợp không áp dụng hợp đồng lao động: bao gồm công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp Nhà nước; người được Nhà nước bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng trong doanh nghiệp Nhà nước; Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp chuyên trách, người giữ chức vụ trong các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp do Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân bầu hoặc cử ra theo nhiệm kỳ; sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong lực lượng quân đội nhân dân và công an nhân dân; người làm việc trong một số ngành nghề hoặc địa bàn đặc biệt thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ; và người thuộc các đoàn thể nhân dân, tổ chức chính trị, xã hội, xã viên hợp tác xã, cán bộ chuyên trách công tác Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên trong doanh nghiệp.
Hình thức và các loại hợp đồng lao động
- Hình thức hợp đồng: Hợp đồng lao động ký kết bằng văn bản phải thực hiện theo mẫu do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ấn hành và thống nhất quản lý. Dù giao kết bằng văn bản hay bằng miệng, hợp đồng vẫn phải bảo đảm đầy đủ các nội dung cốt lõi theo quy định của Bộ luật Lao động. Đối với hợp đồng bằng miệng, hai bên có thể thỏa thuận về việc có người thứ ba làm chứng nếu thấy cần thiết.
- Các loại hợp đồng lao động:
- Hợp đồng lao động không xác định thời hạn: Áp dụng cho những công việc có tính chất thường xuyên, ổn định từ 1 năm trở lên, trong đó hai bên không ấn định trước thời hạn kết thúc của hợp đồng.
- Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 1 năm đến 3 năm: Áp dụng cho những công việc đã xác định được thời hạn kết thúc, thời hạn cụ thể được ấn định trước là 1 năm, 2 năm hoặc 3 năm.
- Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định dưới 1 năm: Áp dụng cho các công việc có tính chất tạm thời, hoàn thành trong vòng vài ngày, vài tháng đến dưới 1 năm, hoặc dùng để tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ thai sản, bị tạm giữ, tạm giam hoặc các trường hợp tạm hoãn khác.
Nguyên tắc giao kết hợp đồng và quy định thử việc
- Nguyên tắc giao kết: Hợp đồng được giao kết trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động. Trường hợp ký kết thông qua người ủy quyền hợp pháp đại diện cho một nhóm lao động thì phải kèm theo danh sách chi tiết có chữ ký của từng người; hình thức này chỉ áp dụng cho công việc mùa vụ, công việc dưới 1 năm hoặc từ 1 đến 3 năm. Người lao động được phép giao kết nhiều hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động nếu có khả năng thực hiện. Đối với người lao động dưới 15 tuổi, việc giao kết phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người đỡ đầu.
- Quy định về thử việc: Thời gian thử việc tối đa được quy định nghiêm ngặt theo trình độ chuyên môn của công việc: không quá 60 ngày đối với công việc cần trình độ đại học và trên đại học; không quá 30 ngày đối với công việc cần trình độ trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ; và không quá 6 ngày đối với các lao động khác. Khi hết thời gian thử việc, nếu đạt yêu cầu hoặc người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà không nhận được thông báo kết quả thì đương nhiên trở thành lao động chính thức và hai bên phải tiến hành giao kết hợp đồng lao động.
Hiệu lực, thay đổi nội dung và tạm thời chuyển làm việc khác
- Hiệu lực và thay đổi hợp đồng: Hợp đồng bằng văn bản có hiệu lực từ ngày ký hoặc ngày do hai bên thỏa thuận; hợp đồng bằng miệng có hiệu lực từ ngày người lao động bắt đầu làm việc. Trong quá trình thực hiện, nếu một bên yêu cầu thay đổi nội dung mà bên kia không chấp thuận thì tiếp tục thực hiện hợp đồng đã giao kết hoặc hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng theo quy định pháp luật.
- Tạm thời chuyển người lao động làm việc khác trái nghề: Người sử dụng lao động có quyền chuyển người lao động làm việc khác trái nghề do khó khăn đột xuất (thiên tai, hỏa hoạn, sự cố điện nước, nhu cầu sản xuất kinh doanh) nhưng không quá 60 ngày cộng dồn trong một năm. Nếu quá 60 ngày, phải có sự thỏa thuận của người lao động; nếu người lao động không đồng ý mà phải ngừng việc thì được hưởng lương ngừng việc theo quy định.
Tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động
- Các trường hợp tạm hoãn do thỏa thuận: Người lao động đi học trong hoặc ngoài nước; đi làm việc có thời hạn cho tổ chức, cá nhân khác; chuyển làm cán bộ chuyên trách trong hội đồng doanh nghiệp nhà nước; hoặc xin nghỉ không hưởng lương để giải quyết việc riêng.
- Trách nhiệm khi hết thời hạn tạm hoãn: Người lao động phải có mặt đúng hạn. Nếu đến đúng hạn mà phải chờ việc thì được hưởng lương ngừng việc. Nếu quá 7 ngày kể từ ngày hết hạn tạm hoãn mà người lao động không đến làm việc không có lý do chính đáng thì sẽ bị xử lý kỷ luật sa thải.
- Trường hợp bị tạm giữ, tạm giam: Nếu liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động, khi được xác định bị oan, người lao động phải được nhận lại làm việc cũ và trả đủ lương, quyền lợi trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam. Nếu không liên quan trực tiếp, người sử dụng lao động bố trí lại việc cũ hoặc sắp xếp công việc mới sau khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam.
Chế độ trợ cấp thôi việc và bồi thường chi phí đào tạo
- Bồi thường chi phí đào tạo: Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật phải bồi thường chi phí đào tạo nghề theo quy định.
- Điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc: Người lao động được hưởng trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp theo quy định. Các trường hợp bị sa thải kỷ luật, đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật hoặc chấm dứt do thay đổi cơ cấu công nghệ mà đã hưởng trợ cấp mất việc làm thì không được hưởng trợ cấp thôi việc.
- Thời gian tính trợ cấp thôi việc: Là tổng thời gian thực tế làm việc theo các bản hợp đồng lao động (kể cả hợp đồng miệng). Thời gian này bao gồm cả thời gian thử việc, tập sự, thời gian được cử đi đào tạo, nghỉ chế độ bảo hiểm xã hội, nghỉ lễ tết, thời gian chờ việc, học nghề tại doanh nghiệp, thời gian bị xử lý kỷ luật sai. Tháng lẻ từ 1 đến dưới 7 tháng được tính tròn thành 6 tháng; từ đủ 7 tháng đến 12 tháng được tính tròn thành 1 năm.
- Nguồn kinh phí và phương thức chi trả: Doanh nghiệp hạch toán khoản chi này vào giá thành hoặc phí lưu thông; các cơ quan, tổ chức khác tự cân đối nguồn kinh phí. Trợ cấp thôi việc được chi trả trực tiếp, một lần cho người lao động tại nơi làm việc.
Trách nhiệm thanh toán khi chấm dứt hợp đồng và điều khoản chuyển tiếp
- Thời hạn thanh toán: Các bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản quyền lợi trong thời hạn quy định. Đối với các trường hợp đặc biệt như doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, thiên tai, hỏa hoạn, thời hạn thanh toán tối đa không được quá 30 ngày kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động.
- Xử lý hợp đồng lao động chuyển tiếp: Các hợp đồng lao động đã giao kết trước ngày 1 tháng 1 năm 1995 có nội dung không phù hợp với Bộ luật Lao động phải được sửa đổi, bổ sung trong vòng 6 tháng kể từ ngày Nghị định có hiệu lực. Những điều khoản có lợi hơn cho người lao động vẫn được tiếp tục thực hiện. Công nhân, viên chức thuộc lực lượng thường xuyên trong các doanh nghiệp nhà nước được chuyển sang giao kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 198-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1995. Nghị định này bãi bỏ Nghị định số 165-HĐBT ngày 12 tháng 5 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Hợp đồng lao động và các văn bản hướng dẫn trước đây của Chính phủ về hợp đồng lao động trái với Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 198-CP | Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 1994 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và xã hội,
NGHỊ ĐỊNH :
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ÁP DỤNG HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
1- Các tổ chức, cá nhân sau đây khi sử dụng lao động phải thực hiện giao kết hợp đồng lao động:
a) Các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn; hợp tác xã (với người lao động không phải là xã viên), cá nhân và hộ gia đình có thuê lao động;
b) Các cơ quan hành chính, sự nghiệp, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội khác sử dụng lao động không phải là công chức, viên chức Nhà nước;
c) Các tổ chức kinh tế thuộc lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân sử dụng lao động không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan và chiến sĩ;
d) Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; các doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp; cá nhân, tổ chức, cơ quan nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế đóng tại Việt Nam;
e) Các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam sử dụng người lao động nước ngoài trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác;
g) Các tổ chức, cá nhân sử dụng lao động là người nghỉ hưu, người giúp việc gia đình, công chức, viên chức Nhà nước làm những công việc mà Quy chế Công chức không cấm.
a) Công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp Nhà nước;
b) Người được Nhà nước bổ nhiệm giữ chức vụ giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng trong doanh nghiệp nhà nước;
c) Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp chuyên trách; người giữ các chức vụ trong cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp được Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân các cấp bầu hoặc cử ra theo nhiệm kỳ;
d) Sĩ quan, hạ sỹ quan và chiến sỹ trong lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân;
e) Người làm việc trong một số ngành nghề hoặc ở địa bàn đặc biệt thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ do Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ hướng dẫn, sau khi thoả thuận với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;
g) Người thuộc các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội khác, xã viên hợp tác xã, kể cả các cán bộ chuyên trách công tác đảng, công đoàn, thanh niên trong các doanh nghiệp.
HÌNH THỨC, NỘI DUNG, LOẠI HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
- Hợp đồng lao động ký kết bằng văn bản phải theo bản hợp đồng lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ấn hành và thống nhất quản lý.
- Hợp đồng lao động ký kết bằng văn bản hay giao kết bằng miệng phải bảo đảm nội dung quy định tại Điều 29 của Bộ luật Lao động.
Trong trường hợp giao kết hợp đồng bằng miệng nếu cần có người thứ ba chứng kiến thì do hai bên thoả thuận.
Điều 3. Các loại hợp đồng lao động, theo Điều 27 của Bộ Lao động gồm:
1- Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng không ấn định trước thời hạn kết thúc trong bản hợp đồng lao động.
Loại hợp đồng lao động không xác định thời hạn được áp dụng cho những công việc có tính chất thường xuyên, ổn định từ 1 năm trở lên.
2- Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 1 năm đến 3 năm là loại hợp đồng được ấn định trước thời hạn 1 năm, 2 năm hoặc 3 năm trong bản hợp đồng lao động; loại hợp đồng này được áp dụng cho những công việc đã xác định được thời hạn kết thúc.
3- Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới 1 năm được áp dụng cho những công việc có tính chất tạm thời mà thời gian hoàn thành trong một vài ngày, một vài tháng đến dưới 1 năm hoặc để tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, làm các nghĩa vụ công dân khác do pháp luật quy định, nghỉ theo chế độ thai sản, người lao động bị tạm giữ, tạm giam hoặc các trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động khác do hai bên thoả thuận.
GIAO KẾT, THAY ĐỔI, TẠM HOÃN CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
1- Hợp đồng lao động được giao kết trực tiếp giữa người lao động với người sử dụng lao động hoặc có thể được ký kết giữa người sử dụng lao động với người được uỷ quyền hợp pháp thay mặt cho nhóm người lao động. Trường hợp do người uỷ quyền hợp pháp ký kết phải kèm theo danh sách họ tên, tuổi, địa chỉ thường trú, nghề nghiệp và chữ ký của từng người lao động. Hợp đồng lao động này có hiệu lực như ký kết với từng người và chỉ có thể áp dụng trong các trường hợp sau: Người sử dụng lao động cần lao động để giải quyết một công việc nhất định, theo mùa vụ mà thời hạn kết thúc dưới 1 năm hoặc công việc xác định được thời gian kết thúc từ 1 năm đến 3 năm.
3- Đối với ngành nghề và công việc được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật Lao động, thì việc giao kết hợp đồng lao động phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người đỡ đầu của người đó mới có giá trị.
1- Thời gian thử việc không được quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật bậc đại học và trên đại học.
2- Thời gian thử việc không được quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.
3- Thời gian thử việc không quá 6 ngày đối với những lao động khác.
4- Hết thời gian thử việc nói tại Khoản 1, 2, 3 trên, người sử dụng lao động có trách nhiệm thông báo kết quả thử việc cho người lao động nếu đạt yêu cầu hoặc người lao động không được thông báo mà vẫn tiếp tục làm việc thì người đó đương nhiên được làm việc chính thức, hai bên phải tiến hành giao kết hợp đồng lao động.
1- Hợp đồng lao động bằng văn bản có hiệu lực từ ngày ký hoặc từ ngày do hai bên thoả thuận; hợp đồng lao động giao kết bằng miệng có hiệu lực từ ngày người lao động bắt đầu làm việc.
2- Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động nếu một bên có yêu cầu thay đổi nội dung hợp đồng mà bên kia không chấp thuận thì hợp đồng lao động đã giao kết tiếp tục được thực hiện hoặc hai bên cũng có thể chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại các Điều 37, 38 của Bộ luật lao động.
1- Khi người sử dụng lao động gặp khó khăn đột xuất trong công tác, trong sản xuất kinh doanh do khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn; do áp dụng các biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, do sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất - kinh doanh thì người sử dụng lao động có quyền tạm thời chuyển người lao động làm việc khác trái nghề, nhưng không được quá 60 ngày (cộng dồn) trong một năm. Trong thời hạn này, nếu người lao động không chấp hành quyết định của người sử dụng lao động thì không được hưởng lương ngừng việc theo quy định tại Khoản 2 Điều 62 của Bộ luật lao động và có thể bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Điều 84 của Bộ luật lao động.
2- Trong trường hợp người sử dụng lao động tạm thời chuyển người lao động làm việc khác trái nghề quá 60 ngày (cộng dồn) trong một năm thì phải có sự thoả thuận của người lao động; nếu người lao động không chấp thuận mà họ phải ngừng việc thì người đó được hưởng lương theo quy định tại Khoản 1 Điều 62 của Bộ luật lao động.
1- Các trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động do hai bên thoả thuận bao gồm:
a) Người lao động xin đi học ở trong hoặc ngoài nước.
b) Người lao động xin đi làm việc có thời hạn cho tổ chức, cơ quan, cá nhân ở trong nước hoặc ngoài nước.
c) Người lao động được chuyển làm cán bộ chuyên trách trong các hội đồng của doanh nghiệp Nhà nước.
d) Người lao động xin nghỉ không hưởng tiền lương để giải quyết những công việc khác của bản thân.
2- Hết thời hạn tạm hoãn hợp đồng lao động trong các trường hợp quy định tại điểm a, c, Khoản 1 Điều 35 của Bộ luật lao động, người lao động phải có mặt tại nơi làm việc; người sử dụng lao động có trách nhiệm sắp xếp việc làm cho người lao động, nếu người lao động đến đơn vị để làm việc đúng thời hạn quy định mà phải nghỉ chờ việc thì được hưởng lương theo quy định tại Khoản 1 Điều 62 của Bộ luật lao động.
Trường hợp người lao động đã quá 7 ngày, kể từ ngày hết hạn tạm hoãn hợp đồng lao động không đến địa điểm làm việc mà không có lý do chính đáng, thì được xử lý theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 85 của Bộ luật lao động.
3- Người lao động bị tạm giữ, tạm giam khi hết thời gian tạm hoãn hợp đồng lao động được giải quyết như sau:
a) Việc tạm giữ, tạm giam có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động:
- Khi hết hạn tạm giữ, tạm giam hoặc khi Toà án xét xử kết luận là người lao động bị oan thì người sử dụng lao động phải nhận họ trở lại làm việc cũ, trả đủ tiền lương và các quyền lợi khác trong thời gian lao động bị tạm giữ, tạm giam theo quy định tại Nghị định số 197-CP ngày 31-12-1994 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Bộ luật lao động về tiền lương.
- Trường hợp, đương sự là người phạm pháp, nhưng Toà án xét xử cho miễn tố không bị tù giam hoặc không bị Toà án cấm làm công việc cũ, thì tuỳ theo tính chất sai phạm, người sử dụng lao động bố trí cho người đó làm việc cũ hoặc sắp xếp công việc mới.
b) Trong trường hợp người lao động bị tạm giữ, tạm giam không liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động thì khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam, người sử dụng lao động bố trí cho người đó làm việc cũ hoặc sắp xếp công việc mới.
Điều 10. Trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động theo Điều 42 của Bộ luật lao động:
2- Nguồn kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc:
a) Đối với doanh nghiệp, được hạch toán vào giá thành hoặc phí lưu thông.
b) Đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là doanh nghiệp thì tự lo nguồn kinh phí.
3- Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc:
a) Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian đã làm theo các bản hợp đồng lao động đã giao kết, kể cả hợp đồng giao kết bằng miệng mà người lao động thực tế làm việc cho người sử dụng lao động đó.
b) Người lao động trước đây đã là công nhân viên chức Nhà nước nay vẫn làm việc ở đơn vị cũ thì thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian làm việc ở đơn vị đó.
c) Trường hợp người lao động trước khi làm việc cho doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, mà đã có thời gian làm việc ở các đơn vị khác thuộc khu vực Nhà nước, thì các đơn vị này có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc trong thời gian người lao động đã làm việc tại đơn vị. Khoản tiền này được chuyển theo thông báo của đơn vị mà người lao động đang làm việc để đơn vị cũ trả cho người lao động. Trường hợp đơn vị cũ đã giải thể hoặc thực sự khó khăn về tài chính thì khoản trợ cấp thôi việc do ngân sách Nhà nước chi trả.
d) Ngoài thời gian nói trên, nếu có những thời gian sau đây cũng được tính là thời gian làm việc cho người sử dụng lao động:
- Thời gian thử việc hoặc tập sự tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức (nếu có);
- Thời gian doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức nâng cao trình độ nghề nghiệp hoặc cử đi đào tạo nghề cho người lao động;
- Thời gian người lao động nghỉ theo chế độ bảo hiểm xã hội, thời gian nghỉ ngơi theo Bộ luật Lao động quy định;
- Thời gian chờ việc khi hết hạn tạm hoãn hợp động lao động hoặc người lao động phải ngừng việc có hưởng lương;
- Thời gian học nghề, tập nghề tại doanh nghiệp;
- Thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động quy định tại Điều 35 của Bộ luật Lao động, thì do hai bên thoả thuận;
- Thời gian bị xử lý sai về kỷ luật sa thải hoặc về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
- Thời gian người lao động bị tạm đình chỉ công việc theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Lao động.
4- Mức lương cộng phụ cấp lương (nếu có) để tính trợ cấp thôi việc theo quy định tại Nghị định số 197-CP ngày 31-12-1994 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Bộ luật Lao động về tiền lương.
5- Thời gian làm việc đối với những tháng lẻ được tính như sau:
- Từ 1 tháng đến dưới 7 tháng được tính bằng 6 tháng làm việc;
- Từ đủ 7 tháng đến 12 tháng được tính bằng 1 năm làm việc.
6- Người lao động được trả trợ cấp thôi việc theo mức quy định tại Khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Lao động, được trả trực tiếp, một lần, tại nơi làm việc và đúng thời hạn theo quy định tại Điều 43 của Bộ luật lao động.
Điều 11. Trách nhiệm của mỗi bên khi chấm dứt hợp động lao động theo Điều 43 của Bộ luật lao động.
Thời hạn thanh toán các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên được thực hiện theo quy định tại Điều 43 của Bộ luật lao động.
Đối với các trường hợp đặc biệt sau: trả trợ cấp thôi việc đối với người lao động đã làm việc trong nhiều doanh nghiệp được quy định tại điểm c
| Võ Văn kiệt (Đã ký) |
- 1Luật Tổ chức Chính phủ 1992
- 2Bộ luật Lao động 1994
- 3Thông tư 04/LĐTBXH-TT-1996 hướng dẫn việc ký kết hợp đồng lao động trong một số loại hoạt động văn hoá, dịch vụ do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành
- 4Thông tư 21/LĐTBXH-TT-1996 hướng dẫn Nghị định 198/CP-1994 về hợp đồng lao động do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành
- 5Bộ Luật lao động 2012
Nghị định 198-CP năm 1994 hướng dẫn Bộ luật lao động về hợp đồng lao động
- Số hiệu: 198-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 31/12/1994
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Võ Văn Kiệt
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 5
- Ngày hiệu lực: 01/01/1995
- Ngày hết hiệu lực: 11/06/2003
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
