Luật Khoáng sản sửa đổi 2005 được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản năm 1996, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2005. Văn bản này tập trung hoàn thiện các quy định về quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản, quy hoạch, phân cấp thẩm quyền cấp phép và xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
- Phạm vi điều chỉnh: Luật quy định về quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản; hoạt động điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản; và các hoạt động khoáng sản bao gồm khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản ở các thể rắn, thể khí, nước khoáng và nước nóng thiên nhiên. Riêng dầu khí và các loại nước thiên nhiên khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này mà được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật chuyên ngành khác.
- Đối tượng áp dụng: Áp dụng đối với cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý; tổ chức làm nhiệm vụ điều tra cơ bản địa chất; tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoạt động khoáng sản tại Việt Nam; cùng các tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
Các nội dung cốt lõi của Luật Khoáng sản sửa đổi 2005
- Nguyên tắc hoạt động khoáng sản
- Tài nguyên khoáng sản phải được bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội cả trước mắt và lâu dài.
- Hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng phải tuân thủ quy hoạch được phê duyệt; bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; kết hợp chặt chẽ với bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử - văn hóa; hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng và ổn định đời sống nhân dân địa phương; bảo đảm quốc phòng, an ninh.
- Quy mô và công nghệ khai thác, chế biến phải phù hợp với đặc điểm từng loại khoáng sản, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn quyết định đầu tư; áp dụng công nghệ tiên tiến để tối đa hóa hệ số thu hồi khoáng sản chính và khoáng sản đi kèm.
- Quy hoạch khoáng sản và thẩm quyền phê duyệt
Quy hoạch khoáng sản được lập theo vùng lãnh thổ và theo loại khoáng sản, bao gồm quy hoạch điều tra cơ bản địa chất và quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng. Thẩm quyền phê duyệt được phân định rõ ràng:
- Bộ Tài nguyên và Môi trường lập và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản.
- Bộ Công nghiệp lập và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản (trừ khoáng sản làm vật liệu xây dựng và nguyên liệu sản xuất xi măng).
- Bộ Xây dựng lập và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch đối với khoáng sản làm vật liệu xây dựng và nguyên liệu sản xuất xi măng.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập và trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy hoạch đối với các loại khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của địa phương.
- Chính sách của Nhà nước về khoáng sản
- Nhà nước đầu tư cho công tác quy hoạch, điều tra cơ bản địa chất, đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học công nghệ trong lĩnh vực địa chất khoáng sản.
- Khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân đầu tư thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản. Áp dụng chính sách ưu đãi đối với các dự án khai thác gắn liền với chế biến tại chỗ tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn; các dự án áp dụng công nghệ tiên tiến, bảo vệ môi trường và thu hồi tối đa thành phần có ích.
- Hạn chế xuất khẩu khoáng sản dưới dạng nguyên liệu thô và tinh quặng.
- Bảo đảm ngân sách nhà nước cho công tác bảo vệ tài nguyên khoáng sản và đầu tư thăm dò đối với một số loại khoáng sản quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
- Bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản; khuyến khích tham gia kinh doanh bảo hiểm trong hoạt động khoáng sản.
- Các hành vi bị nghiêm cấm
- Điều tra cơ bản địa chất, khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến, tàng trữ, vận chuyển và mua bán khoáng sản trái phép.
- Vi phạm quy hoạch khoáng sản, hoạt động tại các vùng cấm hoặc tạm thời cấm hoạt động khoáng sản.
- Không thực hiện đúng các nghĩa vụ quy định trong hoạt động khoáng sản.
- Làm lộ thông tin về tài nguyên khoáng sản thuộc danh mục bí mật nhà nước.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái các quy định pháp luật về khoáng sản.
- Trách nhiệm bảo vệ tài nguyên khoáng sản
- Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm xác định và thông báo các khu vực có tài nguyên khoáng sản đã được điều tra, đánh giá cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để quản lý, bảo vệ.
- Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện các biện pháp bảo vệ khoáng sản tại địa phương, kể cả các khu vực chưa được thông báo nhưng phát hiện có khoáng sản.
- Tổ chức, cá nhân lập quy hoạch xây dựng khu dân cư tập trung hoặc công trình cố định tại vùng có khoáng sản phải có ý kiến bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản có thẩm quyền trước khi trình duyệt quy hoạch.
- Khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường
- Không bắt buộc phải tiến hành thăm dò khoáng sản đối với hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường (trừ cát, sỏi lòng sông) có công suất khai thác không quá 100.000 m3/năm và thời gian khai thác (kể cả gia hạn) không quá 05 năm.
- Không phải xin giấy phép khai thác trong hai trường hợp: Khai thác trong phạm vi diện tích đất của dự án đầu tư công trình đã được phê duyệt mà sản phẩm chỉ dùng cho chính công trình đó (phải đăng ký thông tin khai thác với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh); Khai thác trong diện tích đất ở của hộ gia đình, cá nhân để phục vụ nhu cầu xây dựng của chính hộ gia đình, cá nhân đó.
- Khai thác khoáng sản tại khu vực có dự án đầu tư xây dựng công trình
- Đối với khu vực có dự án đầu tư xây dựng thông thường: Nếu phát hiện có khoáng sản, cơ quan có thẩm quyền quyết định việc thăm dò để cấp phép khai thác trước khi dự án được phê duyệt. Nếu phát hiện trong quá trình xây dựng, cơ quan thẩm quyền quyết định việc khai thác hoặc không khai thác để bảo đảm tiến độ công trình (không bắt buộc thăm dò).
- Đối với khu vực có dự án quan trọng quốc gia hoặc công trình quan trọng có chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ: Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương quyết định việc khai thác và cấp phép nhằm bảo đảm tiến độ xây dựng.
- Trường hợp việc khai thác không có hiệu quả hoặc không có đơn vị đăng ký, cơ quan thẩm quyền quyết định không khai thác và trả lời bằng văn bản cho chủ đầu tư hoặc cơ quan quyết định đầu tư.
- Trường hợp tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản không phải là chủ đầu tư đã được giao đất, thuê đất thì việc sử dụng đất để khai thác khoáng sản do hai bên tự thỏa thuận theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Quy định về khai thác tận thu
Khai thác tận thu chỉ được thực hiện đối với lượng khoáng sản còn lại ở các mỏ đã có quyết định đóng cửa mỏ để thanh lý hoặc tại các bãi thải của mỏ đã đóng cửa. Các giấy phép khai thác tận thu hợp pháp đã cấp trước ngày Luật này có hiệu lực được tiếp tục thực hiện cho đến khi hết hạn.
- Phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về khoáng sản
- Chính phủ: Thống nhất quản lý nhà nước về khoáng sản trong phạm vi cả nước.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường: Chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về khoáng sản trên toàn quốc.
- Bộ Công nghiệp: Quản lý nhà nước về công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản (trừ khoáng sản làm vật liệu xây dựng và nguyên liệu sản xuất xi măng).
- Bộ Xây dựng: Quản lý nhà nước về công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng và nguyên liệu sản xuất xi măng.
- Ủy ban nhân dân các cấp: Thực hiện quản lý nhà nước về khoáng sản tại địa phương theo thẩm quyền được phân cấp.
- Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản: Giúp Chính phủ thẩm định, xét duyệt trữ lượng khoáng sản trong báo cáo thăm dò (trừ khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và than bùn).
- Thẩm quyền cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép hoạt động khoáng sản
- Bộ Tài nguyên và Môi trường: Cấp, gia hạn, thu hồi, cho phép trả lại giấy phép khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản (trừ các trường hợp thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh).
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Cấp, gia hạn, thu hồi, cho phép trả lại giấy phép khai thác tận thu; giấy phép khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và than bùn; giấy phép đối với khu vực đã được điều tra, đánh giá hoặc thăm dò nhưng không nằm trong quy hoạch chung của cả nước hoặc không thuộc diện dự trữ tài nguyên khoáng sản quốc gia.
Điều khoản thi hành và bãi bỏ
Luật Khoáng sản sửa đổi 2005 chính thức bãi bỏ Điều 48 của Luật Khoáng sản năm 1996, đồng thời điều chỉnh một số cụm từ liên quan tại các điều khoản khác để bảo đảm tính thống nhất. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2005. Chính phủ chịu trách nhiệm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 46/2005/QH11 | Hà Nội, ngày 14 tháng 6 năm 2005 |
LUẬT
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT KHOÁNG SẢN CỦA QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM SỐ 46/2005/QH11 NGÀY 14 THÁNG 6 NĂM 2005
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;
Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khoáng sản được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 20 tháng 3 năm 1996.
Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khoáng sản như sau:
1. Điều 2 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 2. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Luật này quy định việc quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản, hoạt động điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản, hoạt động khoáng sản (bao gồm khảo sát, thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản) ở thể rắn, thể khí, nước khoáng và nước nóng thiên nhiên; riêng dầu khí và các loại nước thiên nhiên khác được điều chỉnh bằng các văn bản pháp luật khác.
2. Luật này áp dụng đối với cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về khoáng sản; tổ chức làm nhiệm vụ điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản; tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoạt động khoáng sản ở Việt Nam; tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản.
Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.”
“Điều 3a. Nguyên tắc hoạt động khoáng sản
Hoạt động khảo sát, thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
1. Tài nguyên khoáng sản phải được bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài;
2. Việc thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản phải theo quy hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; kết hợp chặt chẽ với bảo vệ môi trường, tài nguyên khác, cảnh quan thiên nhiên và di tích lịch sử - văn hoá; tạo điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng, ổn định, cải thiện đời sống nhân dân địa phương nơi có khoáng sản được khai thác, chế biến và bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
3. Quy mô và công nghệ khai thác, chế biến khoáng sản phải phù hợp với đặc điểm từng loại khoáng sản, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để quyết định đầu tư; áp dụng công nghệ khai thác, chế biến tiên tiến phù hợp để nâng cao tối đa hệ số thu hồi khoáng sản chính, khoáng sản đi kèm và giá trị của sản phẩm chế biến; nâng cao hiệu quả, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm khoáng sản.”
“Điều 3b. Quy hoạch khoáng sản
1. Quy hoạch khoáng sản được lập theo vùng lãnh thổ và theo loại khoáng sản, bao gồm:
a) Quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản;
b) Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản.
2. Thẩm quyền phê duyệt quy hoạch khoáng sản được quy định như sau:
a) Bộ Tài nguyên và Môi trường lập và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản và chỉ đạo tổ chức thực hiện;
b) Bộ Công nghiệp lập và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản, trừ khoáng sản làm vật liệu xây dựng, khoáng sản làm nguyên liệu sản xuất xi măng;
c) Bộ Xây dựng lập và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng, khoáng sản làm nguyên liệu sản xuất xi măng;
d) Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức lập và trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng đối với các loại khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp giấy phép quy định tại
3. Chính phủ quy định việc lập và thực hiện quy hoạch khoáng sản.”
4. Điều 5 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 5. Chính sách của Nhà nước về khoáng sản
1. Nhà nước đầu tư cho việc quy hoạch, điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và phát triển công nghệ trong công tác điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản.
2. Nhà nước tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản.
3. Nhà nước có chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư đối với dự án khai thác gắn liền với chế biến tại chỗ khoáng sản ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; dự án có áp dụng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, bảo đảm môi trường, thu hồi tối đa các thành phần có ích, làm ra các sản phẩm kim loại, hợp kim hoặc các sản phẩm có giá trị và hiệu quả kinh tế - xã hội cao; dự án chế biến khoáng sản nhập khẩu đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu.
4. Hạn chế xuất khẩu khoáng sản dưới dạng nguyên liệu thô, tinh quặng. Việc ban hành danh mục, điều kiện và tiêu chuẩn khoáng sản xuất khẩu, khoáng sản hạn chế xuất khẩu do Chính phủ quy định.
5. Nhà nước có chính sách đầu tư thăm dò đối với một số loại khoáng sản quan trọng phục vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; bảo đảm ngân sách nhà nước cho công tác bảo vệ tài nguyên khoáng sản.
6. Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong hoạt động khoáng sản theo quy định của pháp luật; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia kinh doanh bảo hiểm cho hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản.”
5. Điều 8 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 8. Những hành vi bị nghiêm cấm
Nhà nước nghiêm cấm các hành vi sau đây:
1. Điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản, khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến, tàng trữ, vận chuyển và mua, bán khoáng sản trái pháp luật;
2. Vi phạm quy hoạch khoáng sản, vùng cấm, tạm thời cấm hoạt động khoáng sản;
3. Không thực hiện đúng các nghĩa vụ trong hoạt động khoáng sản theo quy định tại các
4. Làm lộ thông tin về tài nguyên khoáng sản thuộc bí mật nhà nước;
5. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định của pháp luật về khoáng sản;
6. Các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của pháp luật về khoáng sản.”
6. Điều 9 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 9. Trách nhiệm bảo vệ tài nguyên khoáng sản
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường xác định khu vực có tài nguyên khoáng sản đã được điều tra, đánh giá và thông báo cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để quản lý và bảo vệ.
2. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo vệ tài nguyên khoáng sản ở địa phương, kể cả khu vực chưa được Bộ Tài nguyên và Môi trường thông báo nhưng phát hiện có khoáng sản.
3. Tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ bảo vệ tài nguyên khoáng sản, giữ gìn bí mật nhà nước về tài nguyên khoáng sản.
4. Tổ chức, cá nhân được phép hoạt động khoáng sản có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên khoáng sản trong khu vực được hoạt động.
5. Tổ chức, cá nhân lập quy hoạch xây dựng khu dân cư tập trung, công trình cố định ở khu vực có tài nguyên khoáng sản đã được điều tra, đánh giá hoặc đã được thăm dò, phê duyệt trữ lượng khoáng sản phải trình kèm ý kiến bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản có thẩm quyền quy định tại
Chính phủ quy định việc lập và phê duyệt quy hoạch xây dựng công trình quốc phòng, an ninh ở những khu vực có tài nguyên khoáng sản đã được điều tra, đánh giá.”
7. Điều 41 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 41. Khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường
1. Hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường phải tuân theo các quy định về khai thác khoáng sản của Luật này.
2. Khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, trừ cát, sỏi lòng sông, với công suất khai thác không quá 100.000 m3/năm và thời gian khai thác, kể cả thời gian gia hạn không quá năm năm thì không bắt buộc phải tiến hành thăm dò khoáng sản.
3. Các trường hợp khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường sau đây không phải xin giấy phép khai thác:
a) Khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường trong phạm vi diện tích đất của dự án đầu tư công trình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc cho phép đầu tư mà sản phẩm khai thác chỉ được sử dụng cho xây dựng công trình đó.
Trước khi tiến hành khai thác khoáng sản, tổ chức được quyền khai thác phải đăng ký khu vực, công suất, khối lượng, phương pháp, thiết bị và kế hoạch khai thác tại Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Việc quản lý, sử dụng khoáng sản khai thác được thực hiện theo quy định của pháp luật;
b) Khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường trong diện tích đất ở của hộ gia đình, cá nhân được sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai mà sản phẩm khai thác chỉ nhằm phục vụ cho việc xây dựng của hộ gia đình, cá nhân đó.
4. Chính phủ ban hành danh mục khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường.”
“Điều 43a. Khai thác khoáng sản ở khu vực có dự án đầu tư xây dựng công trình
1. Việc khai thác khoáng sản ở khu vực có dự án đầu tư xây dựng công trình, trừ công trình quy định tại khoản 2 Điều này được thực hiện theo quy định sau đây:
a) Đối với khu vực đã được điều tra, đánh giá về tài nguyên khoáng sản hoặc chưa được điều tra, đánh giá mà phát hiện có khoáng sản thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại
b) Đối với khu vực chưa được điều tra đánh giá về tài nguyên khoáng sản mà trong quá trình xây dựng công trình phát hiện có khoáng sản thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại
2. Đối với khu vực có dự án đầu tư công trình quan trọng quốc gia thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội hoặc công trình quan trọng có chủ trương đầu tư của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đã được điều tra, đánh giá về tài nguyên khoáng sản hoặc chưa được điều tra, đánh giá mà phát hiện có khoáng sản thì Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với bộ, ngành liên quan và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có công trình quyết định việc khai thác và cấp giấy phép khai thác theo thẩm quyền quy định tại
3. Trong trường hợp xét thấy việc khai thác khoáng sản quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không có hiệu quả hoặc không có tổ chức, cá nhân xin khai thác thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại
4. Khai thác khoáng sản quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà tổ chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản không phải là chủ đầu tư công trình đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thì việc sử dụng đất để khai thác khoáng sản do hai bên thoả thuận theo quy định của pháp luật về đất đai.”
9. Điều 49 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 49. Khai thác tận thu
1. Khai thác tận thu được thực hiện đối với khoáng sản còn lại ở mỏ đã có quyết định đóng cửa mỏ để thanh lý hoặc bãi thải trong khai thác, chế biến của mỏ đã có quyết định đóng cửa mỏ.
2. Giấy phép khai thác tận thu khoáng sản hợp pháp được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực được tiếp tục thực hiện cho đến ngày giấy phép hết hạn.”
10. Điều 55 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 55. Trách nhiệm quản lý nhà nước về khoáng sản
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khoáng sản.
5. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về khoáng sản tại địa phương theo thẩm quyền.
6. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công nghiệp, Bộ Xây dựng và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc quản lý nhà nước về khoáng sản.
7. Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản có thẩm quyền và trách nhiệm giúp Chính phủ trong việc thẩm định, xét duyệt trữ lượng khoáng sản trong báo cáo thăm dò khoáng sản, trừ khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và than bùn.
8. Chính phủ quy định cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước về khoáng sản của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công nghiệp, Bộ Xây dựng và Uỷ ban nhân dân các cấp; tổ chức và hoạt động của Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản.”
11. Điều 56 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 56. Thẩm quyền, thủ tục cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép hoạt động khoáng sản
1. Thẩm quyền cấp, gia hạn, thu hồi, cho phép trả lại giấy phép hoạt động khoáng sản, cho phép chuyển nhượng quyền hoạt động khoáng sản được quy định như sau:
a) Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp giấy phép khảo sát, giấy phép thăm dò, giấy phép khai thác, giấy phép chế biến khoáng sản, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này;
b) Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp giấy phép khai thác tận thu khoáng sản theo quy định tại
c) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp loại giấy phép hoạt động khoáng sản nào thì có quyền gia hạn, thu hồi, cho phép trả lại loại giấy phép đó và cho phép chuyển nhượng quyền hoạt động khoáng sản theo quy định của pháp luật.
1. Bãi bỏ Điều 48 của Luật khoáng sản.
2. Thay cụm từ “khoản 1 và 2 Điều 5” tại khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 25 và khoản 2 Điều 31 bằng cụm từ “khoản 3 Điều 5”.
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2005.
2. Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005.
| Nguyễn Văn An (Đã ký) |
- 1Quyết định 02/2006/QĐ-BTNMT về tài liệu và thủ tục công nhận chỉ tiêu tạm thời tính trữ lượng khoáng sản rắn do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 2Quyết định 1229/QĐ-BCN năm 2006 đính chính Thông tư 02/2006/TT-BCN do Bộ trưởng Bộ Công nghiệp ban hành
- 3Quyết định 124/2006/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng sắt đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 4Quyết định 06/2006/QĐ-BTNMT về phân cấp trữ lượng và tài nguyên khoáng sản rắn do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường ban hành
- 5Chỉ thị 13/2006/CT-BCN về việc nâng cao an toàn trong khai thác than do Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp ban hành
- 6Quyết định 14/2006/QĐ-BTNMT về trình tự, thủ tục trình duyệt, thẩm định, xét và phê duyệt trữ lượng khoáng sản trong báo cáo thăm dò khoáng sản do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường ban hành
- 7Quyết định 35/2006/QĐ-BCN ban hành Quy phạm kỹ thuật khai thác hầm lò than và diệp thạch 18–TCN–5-2006 do Bộ trưởng Bộ Công nghiệp ban hành
- 8Quyết định 47/2006/QĐ-BCN Ban hành Quy phạm kỹ thuật an toàn trong các hầm lò than và diệp thạch TCN-14-06-2006 do Bộ trưởng Bộ Công nghiệp ban hành
- 9Quyết định 243/QĐ-TTg năm 2007 phê duyệt giai đoạn I Đề án điều tra, đánh giá tiềm năng than dưới mức -300m, bể than Quảng Ninh do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 10Quyết định 23/2006/QĐ-BCN ban hành Tiêu chuẩn ngành về 16 TCN 978: 2006 đến 16 TCN 985: 2006 do Bộ trưởng Bộ Công nghiệp ban hành
- 11Thông tư liên tịch 37/2007/TTLT-BTC-BTNMT hướng dẫn lập dự toán, quản lý và thanh quyết toán kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với hoạt động điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản do Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 12Quyết định 09/2007/QĐ-BTNMT về Định mức kinh tế – kỹ thuật về điều tra địa chất – khoáng sản biển tỷ lệ 1/500.000 ở độ sâu ngập nước từ 30 đến 100m do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 13Quyết định 33/2007/QĐ-BCN phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng crômit, mangan giai đoạn 2007-2015, định hướng đến năm 2025 do Bộ trưởng Bộ Công nghiệp ban hành.
- 14Lệnh công bố Luật khoáng sản sửa đổi năm 2005
- 15Công văn số 14/BXD-VLXD về việc xuất khẩu vôi cục của Công ty CP Công nghiệp HSC do Bộ Xây dựng ban hành
- 16Công văn số 15/BXD-VLXD về việc xuất khẩu vôi cục của Công ty CP Siêu Liên Kết DL do Bộ Xây dựng ban hành
- 17Công văn số 1683/VPCP-CN về việc thăm dò đá grannit tại xã Xuân Lâm, huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 18Công văn số 468/BXD-VLXD về việc quy hoạch thăm dò đá vôi trắng tại Thung Phá Bàng, xã Châu Hồng, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An do Bộ Xây dựng ban hành
- 19Công văn số 469/BXD-VLXD về việc quy hoạch thăm dò đá vôi trắng tại Thung Có, xã Tân Hợp, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An do Bộ Xây dựng ban hành
- 20Luật khoáng sản 2010
- 1Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 2Nghị định 160/2005/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Khoáng sản và Luật Khoáng sản sửa đổi
- 3Quyết định 02/2006/QĐ-BTNMT về tài liệu và thủ tục công nhận chỉ tiêu tạm thời tính trữ lượng khoáng sản rắn do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 4Quyết định 1229/QĐ-BCN năm 2006 đính chính Thông tư 02/2006/TT-BCN do Bộ trưởng Bộ Công nghiệp ban hành
- 5Quyết định 124/2006/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng sắt đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 6Quyết định 06/2006/QĐ-BTNMT về phân cấp trữ lượng và tài nguyên khoáng sản rắn do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường ban hành
- 7Chỉ thị 13/2006/CT-BCN về việc nâng cao an toàn trong khai thác than do Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp ban hành
- 8Quyết định 14/2006/QĐ-BTNMT về trình tự, thủ tục trình duyệt, thẩm định, xét và phê duyệt trữ lượng khoáng sản trong báo cáo thăm dò khoáng sản do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường ban hành
- 9Quyết định 35/2006/QĐ-BCN ban hành Quy phạm kỹ thuật khai thác hầm lò than và diệp thạch 18–TCN–5-2006 do Bộ trưởng Bộ Công nghiệp ban hành
- 10Quyết định 47/2006/QĐ-BCN Ban hành Quy phạm kỹ thuật an toàn trong các hầm lò than và diệp thạch TCN-14-06-2006 do Bộ trưởng Bộ Công nghiệp ban hành
- 11Quyết định 243/QĐ-TTg năm 2007 phê duyệt giai đoạn I Đề án điều tra, đánh giá tiềm năng than dưới mức -300m, bể than Quảng Ninh do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 12Quyết định 23/2006/QĐ-BCN ban hành Tiêu chuẩn ngành về 16 TCN 978: 2006 đến 16 TCN 985: 2006 do Bộ trưởng Bộ Công nghiệp ban hành
- 13Thông tư liên tịch 37/2007/TTLT-BTC-BTNMT hướng dẫn lập dự toán, quản lý và thanh quyết toán kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với hoạt động điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản do Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 14Hiến pháp năm 1992
- 15Quyết định 09/2007/QĐ-BTNMT về Định mức kinh tế – kỹ thuật về điều tra địa chất – khoáng sản biển tỷ lệ 1/500.000 ở độ sâu ngập nước từ 30 đến 100m do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 16Quyết định 33/2007/QĐ-BCN phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng crômit, mangan giai đoạn 2007-2015, định hướng đến năm 2025 do Bộ trưởng Bộ Công nghiệp ban hành.
- 17Lệnh công bố Luật khoáng sản sửa đổi năm 2005
- 18Công văn số 14/BXD-VLXD về việc xuất khẩu vôi cục của Công ty CP Công nghiệp HSC do Bộ Xây dựng ban hành
- 19Công văn số 15/BXD-VLXD về việc xuất khẩu vôi cục của Công ty CP Siêu Liên Kết DL do Bộ Xây dựng ban hành
- 20Công văn số 1683/VPCP-CN về việc thăm dò đá grannit tại xã Xuân Lâm, huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 21Công văn số 468/BXD-VLXD về việc quy hoạch thăm dò đá vôi trắng tại Thung Phá Bàng, xã Châu Hồng, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An do Bộ Xây dựng ban hành
- 22Công văn số 469/BXD-VLXD về việc quy hoạch thăm dò đá vôi trắng tại Thung Có, xã Tân Hợp, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An do Bộ Xây dựng ban hành
- 23Nghị định 07/2009/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 160/2005/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Khoáng sản và Luật Khoáng sản sửa đổi
Luật Khoáng sản sửa đổi 2005
- Số hiệu: 46/2005/QH11
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 14/06/2005
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Nguyễn Văn An
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 29 đến số 30
- Ngày hiệu lực: 01/10/2005
- Ngày hết hiệu lực: 01/07/2011
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
