Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 được ban hành nhằm xác lập khuôn khổ pháp lý cho việc thành lập, tổ chức hoạt động và giải thể của các doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam. Văn bản này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc thừa nhận sự tồn tại lâu dài, phát triển bình đẳng của thành phần kinh tế tư nhân trước pháp luật, bảo hộ quyền sở hữu tư liệu sản xuất và quyền tự do kinh doanh của công dân.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Luật áp dụng đối với mọi công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có nguyện vọng và đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp tư nhân để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi. Doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật này là đơn vị kinh doanh do một cá nhân làm chủ, có mức vốn không thấp hơn vốn pháp định và chủ doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Quy định về điều kiện và đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp
- Đối tượng được phép và bị cấm thành lập: Mọi công dân Việt Nam đủ 18 tuổi đều có quyền thành lập doanh nghiệp tư nhân, ngoại trừ người mất trí, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị kết án tù mà chưa được xóa án tích. Đồng thời, nghiêm cấm viên chức tại chức trong bộ máy Nhà nước và sĩ quan tại ngũ trong các lực lượng vũ trang nhân dân thành lập doanh nghiệp tư nhân.
- Các ngành, nghề hạn chế kinh doanh: Ngoài các ngành nghề bị pháp luật cấm, việc thành lập doanh nghiệp tư nhân trong các lĩnh vực sau phải được sự cho phép của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng: sản xuất và lưu thông thuốc nổ, thuốc độc, hóa chất độc; khai thác khoáng sản quý; sản xuất và cung ứng điện, nước quy mô lớn; sản xuất phương tiện phát sóng, dịch vụ bưu chính viễn thông, truyền hình, xuất bản; vận tải viễn dương và hàng không; chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu; du lịch quốc tế.
- Điều kiện cấp giấy phép: Cá nhân muốn thành lập doanh nghiệp phải đáp ứng đủ các điều kiện bao gồm: có mục tiêu, ngành nghề kinh doanh rõ ràng, có trụ sở giao dịch và phương án kinh doanh cụ thể; có đủ vốn đầu tư ban đầu không thấp hơn mức vốn pháp định; bản thân chủ doanh nghiệp hoặc người được thuê điều hành phải có trình độ chuyên môn tương ứng theo quy định pháp luật đối với một số ngành nghề đặc thù.
Thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh
- Nộp đơn xin phép thành lập: Cá nhân gửi đơn đến Ủy ban nhân dân có thẩm quyền kèm theo phương án kinh doanh ban đầu. Đơn phải nêu rõ thông tin cá nhân chủ doanh nghiệp, trụ sở, mục tiêu, ngành nghề, vốn đầu tư ban đầu (chi tiết bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, hiện vật) và các biện pháp bảo vệ môi trường.
- Thời hạn giải quyết: Trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận đơn, Ủy ban nhân dân phải quyết định cấp hoặc từ chối cấp giấy phép (phải nêu rõ lý do nếu từ chối). Người xin thành lập có quyền khiếu nại lên Trọng tài kinh tế cấp trên trực tiếp nếu thấy việc từ chối không thỏa đáng.
- Đăng ký kinh doanh: Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày được cấp phép, chủ doanh nghiệp phải đăng ký kinh doanh tại Trọng tài kinh tế cùng cấp. Hồ sơ đăng ký gồm giấy phép thành lập, chứng nhận tài khoản ngân hàng (đối với tiền, ngoại tệ, vàng), chứng nhận công chứng đối với tài sản hiện vật và giấy tờ chứng thực trụ sở. Nếu quá hạn, chủ doanh nghiệp phải làm lại thủ tục xin phép, trừ trường hợp được gia hạn tối đa không quá 30 ngày.
- Công bố thông tin: Doanh nghiệp chính thức hoạt động kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Trong vòng 30 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận, chủ doanh nghiệp phải đăng báo địa phương và báo hàng ngày của trung ương các nội dung chủ yếu như tên doanh nghiệp, trụ sở, ngành nghề, vốn đầu tư, ngày cấp phép và thời điểm bắt đầu hoạt động.
- Mở chi nhánh, văn phòng đại diện và thay đổi nội dung đăng ký: Khi mở chi nhánh ngoài tỉnh, doanh nghiệp phải xin phép Ủy ban nhân dân nơi đặt chi nhánh, đăng ký kinh doanh và thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân nơi cấp phép ban đầu trong vòng 15 ngày. Mọi thay đổi về mục tiêu, ngành nghề, vốn đầu tư ban đầu đều phải khai báo lại với Trọng tài kinh tế và đăng báo công khai.
Chế độ quản lý vốn, tên gọi và trách nhiệm pháp lý
- Tên gọi doanh nghiệp: Doanh nghiệp được đặt tên theo ngành nghề hoặc tên riêng. Trên bảng hiệu, hóa đơn, quảng cáo và các giấy tờ giao dịch bắt buộc phải ghi rõ tên doanh nghiệp kèm theo cụm từ "doanh nghiệp tư nhân" và số vốn đầu tư ban đầu.
- Quản lý vốn đầu tư: Vốn đầu tư ban đầu do chủ doanh nghiệp tự khai và phải được ghi chép đầy đủ vào sổ sách kế toán. Tiền, ngoại tệ, vàng phải gửi tại ngân hàng và được ngân hàng chứng nhận; tài sản hiện vật phải có chứng nhận của cơ quan công chứng. Chủ doanh nghiệp có quyền tăng hoặc giảm vốn trong quá trình hoạt động nhưng không được thấp hơn mức vốn pháp định.
- Trách nhiệm điều hành: Chủ doanh nghiệp có thể trực tiếp quản lý hoặc thuê người khác điều hành, nhưng vẫn phải tự chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động kinh doanh. Chủ doanh nghiệp là nguyên đơn hoặc bị đơn trước Trọng tài kinh tế hoặc Tòa án trong các tranh chấp pháp lý.
Quyền và nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp tư nhân
- Quyền hạn của chủ doanh nghiệp: Tự do lựa chọn ngành nghề, quy mô kinh doanh; lựa chọn hình thức vay vốn; chủ động giao dịch và ký kết hợp đồng; tuyển dụng và thuê mướn lao động; sử dụng ngoại tệ thu được và quyết định sử dụng phần thu nhập còn lại sau thuế. Ngoài ra, chủ doanh nghiệp có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp (phải báo cáo bằng văn bản cho Trọng tài kinh tế) hoặc bán, sáp nhập doanh nghiệp vào đơn vị khác (phải được Ủy ban nhân dân chấp thuận sau khi đã thanh toán hết nợ nần và cam kết thực hiện tiếp các hợp đồng đã ký).
- Nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp: Khai báo trung thực vốn đầu tư; kinh doanh đúng ngành nghề được cấp phép; ưu tiên sử dụng lao động trong nước và bảo đảm quyền lợi của người lao động, tôn trọng tổ chức công đoàn; bảo đảm chất lượng hàng hóa; tuân thủ quy định bảo vệ môi trường, di tích lịch sử, trật tự an toàn xã hội; thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, thống kê và nộp thuế theo quy định của pháp luật.
Quy định về giải thể và phá sản doanh nghiệp
- Giải thể doanh nghiệp: Chủ doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và thanh lý xong mọi hợp đồng. Thủ tục giải thể yêu cầu gửi đơn đến Ủy ban nhân dân đã cấp phép và thông báo trên báo chí về trình tự, thủ tục thanh lý tài sản, thời hạn trả nợ. Ủy ban nhân dân chỉ chấp thuận giải thể sau 15 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn thanh toán nợ mà không có đơn khiếu nại.
- Phá sản doanh nghiệp: Khi doanh nghiệp gặp khó khăn, thua lỗ đến mức tổng trị giá tài sản còn lại không đủ thanh toán các khoản nợ đến hạn thì lâm vào tình trạng phá sản. Việc tuyên bố phá sản do Trọng tài kinh tế cấp tỉnh thực hiện dựa trên đơn xin của chủ doanh nghiệp, yêu cầu của chủ nợ hoặc kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về phá sản.
Chế tài xử lý vi phạm
- Đối với người thành lập doanh nghiệp: Hành vi hoạt động không có giấy phép, không đăng ký kinh doanh, kinh doanh sai ngành nghề hoặc vi phạm các quy định của Luật này sẽ bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ vi phạm.
- Đối với cán bộ, công chức nhà nước: Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cấp phép sai đối tượng, từ chối cấp phép vô lý cho người đủ điều kiện, hoặc xác nhận sai lệch về vốn, tài sản của doanh nghiệp sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp
Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 4 năm 1991. Tất cả các quy định trước đây trái với Luật này đều bị bãi bỏ. Đối với các doanh nghiệp tư nhân đã được cấp phép thành lập trước ngày Luật này có hiệu lực, chủ doanh nghiệp phải tiến hành làm lại thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh theo quy định mới trong thời hạn 180 ngày kể từ ngày Luật có hiệu lực.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 48-LCT/HĐNN8 | Hà Nội, ngày 21 tháng 12 năm 1990 |
LUẬT
DOANH NGHIỆP TƯ NHÂNCỦA QUỐC HỘI SỐ 48-LCT/HĐNN8 NGÀY 21/12/1990
Để thực hiện đường lối phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, khuyến khích việc đầu tư kinh doanh, bảo hộ lợi ích hợp pháp của chủ doanh nghiệp tư nhân; tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh;
Căn cứ vào Điều 83 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Luật này quy định về doanh nghiệp tư nhân.
Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi có quyền thành lập doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật này.
"Kinh doanh" nói trong Luật này là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của doanh nghiệp tư nhân, thừa nhận sự bình đẳng trước pháp luật của doanh nghiệp tư nhân với các doanh nghiệp khác và tính sinh lợi hợp pháp của việc kinh doanh.
Trong khuôn khổ pháp luật, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tự do kinh doanh và chủ động trong mọi hoạt động kinh doanh.
Quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, quyền thừa kế về vốn, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của chủ doanh nghiệp được Nhà nước bảo hộ.
Ngoài một số ngành, nghề mà pháp luật cấm kinh doanh, việc thành lập doanh nghiệp tư nhân trong các ngành nghề dưới đây phải được Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng cho phép:
1- Sản xuất và lưu thông thuốc nổ, thuốc độc, hoá chất độc;
2- Khai thác các loại khoáng sản quý;
3- Sản xuất và cung ứng điện, nước có quy mô lớn;
4- Sản xuất các phương tiện phát sóng truyền tin; dịch vụ bưu chính viễn thông, truyền thanh, truyền hình, xuất bản;
5- Vận tải viễn dương và vận tải hàng không;
6- Chuyên kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu;
7- Du lịch quốc tế.
Người mất trí, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị kết án tù mà chưa được xoá án, thì không được phép thành lập doanh nghiệp tư nhân.
Nghiêm cấm viên chức tại chức trong bộ máy Nhà nước, các sĩ quan tại ngũ trong các lực lượng vũ trang nhân dân thành lập doanh nghiệp tư nhân.
THÀNH LẬP, ĐĂNG KÝ KINH DOANH, GIẢI THỂ, PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP
Cá nhân muốn thành lập doanh nghiệp tư nhân, phải gửi đơn xin phép thành lập doanh nghiệp đến Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền cấp giấy phép theo quy định của Hội đồng bộ trưởng.
Đơn xin thành lập doanh nghiệp phải ghi rõ:
1- Họ, tên, tuổi và địa chỉ thường trú của chủ doanh nghiệp;
2- Trụ sở dự định của doanh nghiệp;
3- Mục tiêu, ngành, nghề kinh doanh cụ thể;
4- Vốn đầu tư ban đầu, trong đó ghi rõ phần vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, tài sản bằng hiện vật;
5- Biện pháp bảo vệ môi trường.
Đơn phải kèm theo phương án kinh doanh ban đầu.
Cá nhân có quyền thành lập doanh nghiệp tư nhân, phải có đủ các điều kiện sau đây mới được cấp giấy phép thành lập:
1- Mục tiêu, ngành, nghề kinh doanh rõ ràng; có trụ sở giao dịch và phương án kinh doanh cụ thể;
2- Có đủ vốn đầu tư ban đầu phù hợp với quy mô và ngành, nghề kinh doanh. Vốn đầu tư ban đầu không được thấp hơn vốn pháp định do Hội đồng bộ trưởng quy định;
3- Bản thân hoặc người được thuê làm quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh có trình độ chuyên môn tương ứng mà pháp luật đòi hỏi đối với một số ngành, nghề.
Điều 10Sửa đổi, bổ sung
Uỷ ban nhân dân nhận đơn phải cấp hoặc từ chối cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận đơn; nếu từ chối cấp giấy phép thì phải nói rõ lý do. Trong trường hợp người xin phép thành lập doanh nghiệp tư nhân thấy việc từ chối cấp giấy phép là không thoả đáng, thì có quyền khiếu nại lên Trọng tài kinh tế cấp trên trực tiếp.
Điều 11Sửa đổi, bổ sung
Hồ sơ đăng ký kinh doanh bao gồm: giấy phép thành lập, giấy chứng nhận của ngân hàng về số tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng của chủ doanh nghiệp có trong tài khoản ở ngân hàng; giấy chứng nhận của cơ quan công chứng về trị giá tài sản bằng hiện vật thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp tư nhân tương ứng với vốn đầu tư ban đầu đã ghi trong giấy phép thành lập và giấy tờ chứng thực về trụ sở giao dịch của doanh nghiệp.
Quá thời hạn sáu mươi ngày quy định tại đoạn 1, Điều này mà chưa đăng ký, nếu muốn tiếp tục thành lập doanh nghiệp tư nhân, thì chủ doanh nghiệp phải làm lại thủ tục xin phép thành lập. Trong trường hợp có lý do chính đáng, Uỷ ban nhân dân đã cấp giấy phép thành lập có thể gia hạn giấy phép thành lập không quá ba mươi ngày.
Điều 12Sửa đổi, bổ sung
Khi đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân được ghi tên vào sổ đăng ký kinh doanh và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Kể từ thời điểm đó, doanh nghiệp tư nhân được tiến hành hoạt động kinh doanh.
Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương cấp giấy phép phải đăng báo địa phương và báo hàng ngày của trung ương về các điểm chủ yếu sau đây:
1- Họ, tên chủ doanh nghiệp và tên doanh nghiệp;
2- Trụ sở của doanh nghiệp;
3- Mục tiêu, ngành, nghề kinh doanh;
4- Vốn đầu tư ban đầu;
5- Ngày được cấp giấy phép thành lập, ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, số đăng ký kinh doanh;
6- Thời điểm bắt đầu hoạt động.
Điều 14Sửa đổi, bổ sung
Trong trường hợp cần đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện ngoài tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương, nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính, chủ doanh nghiệp tư nhân phải:
2- Thông báo bằng văn bản cho Uỷ ban nhân dân đã cấp giấy phép thành lập về việc mở chi nhánh hoặc văn phòng đại diện trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày chi nhánh hoặc văn phòng đại diện được cấp giấy đăng ký.
Điều 15Sửa đổi, bổ sung
Khi thay đổi mục tiêu, ngành, nghề kinh doanh, vốn đầu tư ban đầu và các nội dung khác trong hồ sơ đăng ký kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân phải khai báo lại với Trọng tài kinh tế đã đăng ký kinh doanh. Đối với doanh nghiệp tư nhân được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương cấp giấy phép, thì chủ doanh nghiệp còn phải đăng báo về những nội dung thay đổi.
Chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ được giải thể doanh nghiệp của mình, nếu bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ của doanh nghiệp và thanh lý hết hợp đồng mà doanh nghiệp đã ký kết.
Muốn giải thể doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân đã cấp giấy phép thành lập và thông báo việc xin phép giải thể doanh nghiệp trên báo địa phương và báo hàng ngày của trung ương. Đơn và thông báo phải ghi rõ trình tự và thủ tục thanh lý tài sản, thời hạn thanh toán các khoản nợ và thanh lý các hợp đồng.
Uỷ ban nhân dân chỉ chấp thuận đơn xin giải thể nếu sau mười lăm ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn thanh toán các khoản nợ, thanh lý các hợp đồng đã ghi trong đơn và thông báo việc xin phép giải thể mà không có đơn khiếu nại.
Việc giải thể doanh nghiệp chỉ được bắt đầu khi đơn xin giải thể được chấp thuận.
Điều 17Sửa đổi, bổ sung
Doanh nghiệp tư nhân gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh đến mức tại một thời điểm tổng số trị giá các tài sản còn lại của doanh nghiệp không đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn, là doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản.
Doanh nghiệp nói tại đoạn 1, Điều này có thể bị Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương, nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính tuyên bố phá sản theo đơn xin phá sản của chủ doanh nghiệp; hoặc đơn yêu cầu của một hoặc nhiều chủ nợ; hoặc kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền.
Trình tự và thủ tục phá sản thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản.
TỔ CHỨC HỌAT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
Doanh nghiệp tư nhân được đặt tên theo ngành, nghề kinh doanh hoặc đặt tên riêng. Trên bảng hiệu, hoá đơn, quảng cáo, báo cáo, tài liệu, giấy tờ giao dịch khác của doanh nghiệp tư nhân phải ghi tên doanh nghiệp, kèm theo các chữ "doanh nghiệp tư nhân" và số vốn đầu tư ban đầu của doanh nghiệp.
Chủ doanh nghiệp tư nhân trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, nhưng tự mình vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn trước Trọng tài kinh tế hoặc Toà án trong các tranh chấp và vụ kiện liên quan đến doanh nghiệp.
Vốn đầu tư ban đầu của doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự khai. Vốn là tiền Việt Nam, ngoại tệ hoặc vàng phải gửi ở ngân hàng, nơi chủ doanh nghiệp mở tài khoản và được ngân hàng chứng nhận. Vốn là tài sản bằng hiện vật thì phải có chứng nhận của cơ quan công chứng.
Vốn đầu tư ban đầu và tài sản khác mà chủ doanh nghiệp tư nhân sử dụng vào việc kinh doanh phải được ghi chép vào sổ sách kế toán của doanh nghiệp.
Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư ban đầu nhưng không được thấp hơn vốn pháp định. Việc tăng hoặc giảm vốn đều phải ghi chép đầy đủ vào sổ sách kế toán.
Theo quy định của pháp luật, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền:
2- Lựa chọn hình thức và cách thức vay vốn;
3- Lựa chọn khách hàng, trực tiếp giao dịch, ký kết hợp đồng với khách hàng;
4- Tuyển dụng và thuê mướn lao động theo yêu cầu kinh doanh;
5- Sử dụng ngoại tệ thu được;
6- Quyết định việc sử dụng phần thu nhập còn lại;
7- Chủ động trong các hoạt động kinh doanh đã đăng ký.
Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình. Trước khi cho thuê, chủ doanh nghiệp phải báo cáo bằng văn bản với Trọng tài kinh tế đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Trong thời hạn cho thuê, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp.
Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp của mình vào doanh nghiệp khác. Trước khi bán hoặc sáp nhập, chủ doanh nghiệp phải gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân đã cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp nêu rõ lý do, có kèm theo:
1- Giấy xác nhận của các chủ nợ về việc chủ doanh nghiệp thanh toán hết các khoản nợ, giấy cam kết của doanh nghiệp khác hoặc ngân hàng chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp;
2- Giấy xác nhận của các khách hàng về việc doanh nghiệp đã thanh lý hết các hợp đồng hoặc giấy cam kết của doanh nghiệp khác về việc tiếp tục thực hiện các hợp đồng mà doanh nghiệp đã ký kết.
Uỷ ban nhân dân chỉ chấp thuận việc bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp sau khi chủ doanh nghiệp đã đăng báo đơn xin ba lần liên tiếp, cách nhau năm ngày mà không có đơn khiếu nại trong mười lăm ngày kế tiếp. Việc bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp chỉ được thực hiện sau khi đơn đã được chấp thuận.
Chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ:
1- Khai báo đúng vốn đầu tư để kinh doanh;
2- Kinh doanh theo ngành, nghề ghi trong giấy phép;
3- Ưu tiên sử dụng lao động trong nước; bảo đảm quyền, lợi ích của người lao động theo quy định của pháp luật lao động; tôn trọng quyền của tổ chức công đoàn theo Luật công đoàn;
4- Bảo đảm chất lượng hàng hoá theo tiêu chuẩn đã đăng ký;
5- Tuân thủ quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh và trật tự, an toàn xã hội;
6- Ghi chép sổ sách kế toán và quyết toán theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê và chịu sự kiểm tra của cơ quan tài chính;
7- Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Người thành lập doanh nghiệp tư nhân mà không có giấy phép, kinh doanh mà không đăng ký; kinh doanh không đúng ngành, nghề ghi trong giấy phép hoặc vi phạm các quy định khác của Luật này, thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân cho người bị cấm, cho người không được phép thành lập doanh nghiệp; không cấp giấy phép thành lập hoặc giấy đăng ký kinh doanh cho người đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp hoặc đăng ký; chứng nhận sai về vốn gửi ở ngân hàng hoặc về trị giá tài sản bằng hiện vật cho chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc vi phạm các quy định khác của Luật này, thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Luật này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 4 năm 1991.
Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990.
| Võ Chí Công (Đã ký) |
- 1Chỉ thị 620-TTg về tăng cường quản lý hoạt động tư vấn pháp luật do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2Nghị định 542-NĐ năm 1957 quy định thể lệ đăng ký cho tất cả các nhà in của các cơ quan chính quyền, đoàn thể hay tư nhân do Bộ trưởng Bộ Văn hóa ban hành
- 3Thông tư 02-BKH/DN-1996 hướng dẫn Nghị định 29/CP-1995 về thủ tục đầu tư trực tiếp tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và của người nước ngoài cư trú lâu dài tại Việt Nam do Bộ kế hoạch và đầu tư ban hành
- 4Thông tư 11-TT/CNCL-1996 hướng dẫn Nghị định 27/CP-1995 về quản lý, sản xuất, cung ứng và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp do Bộ Công Nghiệp ban hành
- 5Thông tư 472-PLDS/KT năm 1993 hướng dẫn thủ tục và thời hạn cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân và công ty do Bộ tư pháp ban hành
- 6Công văn về việc đăng ký về thuế
- 7Luật Doanh nghiệp 1999
- 8Luật Doanh nghiệp 2014
- 1Chỉ thị 620-TTg về tăng cường quản lý hoạt động tư vấn pháp luật do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2Nghị định 542-NĐ năm 1957 quy định thể lệ đăng ký cho tất cả các nhà in của các cơ quan chính quyền, đoàn thể hay tư nhân do Bộ trưởng Bộ Văn hóa ban hành
- 3Hiến pháp năm 1980
- 4Nghị quyết về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Quốc hội ban hành
- 5Nghị định 221-HĐBT năm 1991 Quy định về cụ thể hoá một số điều trong Luật doanh nghiệp tư nhân do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 6Nghị định 361-HĐBT năm 1992 sửa đổi quy định cụ thể hóa Luật doanh nghiệp tư nhân ban hành kèm theo Nghị định 221-HĐBT và 222-HĐBT năm 1991 do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 7Thông tư 02-BKH/DN-1996 hướng dẫn Nghị định 29/CP-1995 về thủ tục đầu tư trực tiếp tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và của người nước ngoài cư trú lâu dài tại Việt Nam do Bộ kế hoạch và đầu tư ban hành
- 8Thông tư 11-TT/CNCL-1996 hướng dẫn Nghị định 27/CP-1995 về quản lý, sản xuất, cung ứng và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp do Bộ Công Nghiệp ban hành
- 9Thông tư 472-PLDS/KT năm 1993 hướng dẫn thủ tục và thời hạn cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân và công ty do Bộ tư pháp ban hành
- 10Thông tư 07-TT/ĐKKD năm 1991 hướng dẫn thực hiện đăng ký kinh doanh do Trọng tài Kinh tế Nhà nước ban hành
- 11Công văn về việc đăng ký về thuế
- 12Luật Doanh nghiệp 2014
Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990
- Số hiệu: 48-LCT/HĐNN8
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 21/12/1990
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Võ Chí Công
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 4
- Ngày hiệu lực: 15/04/1991
- Ngày hết hiệu lực: 01/01/2000
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
