Lệnh công bố Pháp lệnh Dân số năm 2003 được ban hành bởi Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm công bố Pháp lệnh Dân số đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XI thông qua ngày 09 tháng 01 năm 2003. Đây là văn bản pháp lý quan trọng, đánh dấu bước tiến mới trong việc thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, hướng tới mục tiêu ổn định quy mô, cơ cấu, phân bố dân số hợp lý và nâng cao chất lượng dân số Việt Nam.
Phạm vi điều chỉnh của văn bản bao gồm các quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân, cơ quan, tổ chức trong công tác dân số; các biện pháp thực hiện quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân số, nâng cao chất lượng dân số và quản lý nhà nước về dân số. Đối tượng áp dụng của văn bản là mọi cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân, công dân Việt Nam; các tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam.
Dưới đây là nội dung chi tiết các quy định cốt lõi tại phần mở đầu và các điều khoản đầu tiên (từ Điều 1 đến Điều 4) của Pháp lệnh Dân số năm 2003:
Phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh (Điều 1)- Xác định rõ các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh bao gồm: quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân số và nâng cao chất lượng dân số.
- Quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của công dân, cơ quan, tổ chức trong việc tham gia, thực hiện và giám sát các hoạt động dân số.
- Xác lập trách nhiệm của Nhà nước trong việc tổ chức, quản lý và điều tiết các vấn đề dân số phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.
- Bảo đảm sự chủ động, tự nguyện, bình đẳng của mỗi cá nhân, gia đình trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản, lựa chọn các biện pháp tránh thai an toàn.
- Kết hợp hài hòa giữa quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân, gia đình với lợi ích của cộng đồng, quốc gia và toàn xã hội.
- Thực hiện lồng ghép các yếu tố dân số vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, trung hạn và hàng năm của đất nước, của từng ngành, từng vùng và từng địa phương.
- Tôn trọng các điều ước quốc tế về dân số mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, đồng thời bảo đảm chủ quyền quốc gia trong việc hoạch định chính sách dân số.
- Công dân có quyền được cung cấp thông tin, giáo dục, tư vấn đầy đủ, khách quan về dân số, sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình.
- Quyền tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi, sức khỏe, điều kiện học tập, lao động, công tác và hoàn cảnh kinh tế của cá nhân, gia đình.
- Quyền lựa chọn và sử dụng các biện pháp tránh thai, chăm sóc sức khỏe sinh sản an toàn, thuận tiện theo quy định của pháp luật.
- Nghĩa vụ thực hiện kế hoạch hóa gia đình, xây dựng quy mô gia đình ít con (mỗi cặp vợ chồng chỉ có một hoặc hai con), no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững.
- Nghĩa vụ tôn trọng các quy định của pháp luật về dân số, đạo đức xã hội và các quy ước, hương ước của cộng đồng dân cư về công tác dân số.
- Nhà nước bảo đảm ngân sách và huy động các nguồn lực xã hội để thực hiện công tác dân số; thực hiện xã hội hóa công tác dân số nhằm thu hút sự tham gia tích cực của toàn dân.
- Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia, đóng góp công sức, trí tuệ, tài chính vào sự nghiệp dân số.
- Ưu tiên đầu tư, hỗ trợ toàn diện cho các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí của người dân tại các khu vực này.
- Mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dân số, tranh thủ sự giúp đỡ, tài trợ, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý của các quốc gia, tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và đôi bên cùng có lợi.
Lệnh công bố Pháp lệnh Dân số năm 2003 có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành. Pháp lệnh Dân số năm 2003 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 05 năm 2003, thay thế các quy định trước đây trái với Pháp lệnh này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 01/2003/L/CTN | Hà Nội, ngày 22 tháng 01 năm 2003 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ PHÁP LỆNH
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Điều 19 của Luật Tổ chức Quốc hội;
Căn cứ vào Điều 51 của Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ
Pháp lệnh dân số.
Đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI thông qua ngày 09/01/2003./.
|
| CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Lệnh công bố Pháp lệnh dân số 2003
- Số hiệu: 01/2003/L/CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 22/01/2003
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Trần Đức Lương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 13
- Ngày hiệu lực: 22/01/2003
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
