Ngày 15 tháng 6 năm 2004, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Lệnh công bố Luật Thanh tra năm 2004 (Luật số 22/2004/QH11), được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 5. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc tổ chức và hoạt động của hệ thống thanh tra nhà nước và thanh tra nhân dân tại Việt Nam.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Văn bản xác định rõ giới hạn điều chỉnh và các chủ thể chịu sự tác động trực tiếp của Luật Thanh tra, cụ thể:
- Phạm vi điều chỉnh (Điều 1): Luật quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan thanh tra nhà nước; trình tự, thủ tục tiến hành thanh tra; quyền, nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thanh tra. Bên cạnh đó, Luật cũng điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của Thanh tra nhân dân.
- Đối tượng áp dụng (Điều 2): Áp dụng đối với cơ quan thanh tra nhà nước, đối tượng thanh tra (bao gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của cơ quan nhà nước) và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động thanh tra.
Nội dung cốt lõi của các điều khoản đầu
Phần mở đầu và các điều khoản đầu tiên của Luật Thanh tra 2004 tập trung làm rõ mục đích và các nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ hoạt động thanh tra:
- Mục đích hoạt động thanh tra (Điều 3): Hoạt động thanh tra được thực hiện nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
- Nguyên tắc hoạt động thanh tra (Điều 4): Hoạt động thanh tra phải tuân theo pháp luật, bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, dân chủ và kịp thời. Quá trình thanh tra không được trùng lặp, chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian giữa các cơ quan thanh tra; đồng thời không được gây cản trở đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra.
Hiệu lực thi hành
Lệnh công bố của Chủ tịch nước có hiệu lực kể từ ngày ký. Luật Thanh tra năm 2004 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2005, thay thế cho Pháp lệnh Thanh tra năm 1990.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 11/2004/L-CTN | Hà Nội , ngày 24 tháng 06 năm 2004 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ LUẬT
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiếp pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội Khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Điều 91 của Luật Tổ chức Quốc hội;
Căn cứ vào Điều 50 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ:
Luật Thanh tra.
Đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 06 năm 2004./.
|
| CHỦ TỊCH NƯỚC |
- 1Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996
- 4Luật Tổ chức Quốc hội 2001
- 5Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002
- 6Luật Thanh tra 2004
Lệnh công bố Luật Thanh tra 2004
- Số hiệu: 11/2004/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 24/06/2004
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Trần Đức Lương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 23 đến số 24
- Ngày hiệu lực: 24/06/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
