Ngày 27 tháng 6 năm 2005, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Lệnh số 14/2005/L-CTN về việc công bố Luật quốc phòng được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng vững chắc cho việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Văn bản áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân là công dân Việt Nam, cũng như các tổ chức, cá nhân nước ngoài đang cư trú, hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam liên quan đến lĩnh vực quốc phòng.
Phạm vi điều chỉnh của Luật quốc phòng- Quy định chi tiết về chính sách quốc phòng của Nhà nước Việt Nam.
- Xác định các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động quốc phòng.
- Quy định về hoạt động quốc phòng, trạng thái quốc phòng, lực lượng vũ trang nhân dân.
- Xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức và quyền, nghĩa vụ của công dân đối với sự nghiệp quốc phòng.
- Áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân Việt Nam.
- Áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài cư trú, hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có liên quan đến quốc phòng.
- Quốc phòng: Là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt.
- Nền quốc phòng toàn dân: Sức mạnh quốc phòng của đất nước được xây dựng trên nền tảng nhân lực, vật lực, tinh thần mang tính chất toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường.
- Thế trận quốc phòng toàn dân: Việc tổ chức, bố trí các lực lượng và tiềm lực quốc phòng trên toàn bộ lãnh thổ theo một ý định chiến lược thống nhất.
- Lực lượng vũ trang nhân dân: Gồm Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ.
- Bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước.
- Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt.
- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng; kết hợp quốc phòng với an ninh và đối ngoại.
- Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân.
Lệnh công bố Luật quốc phòng 2005 có hiệu lực cùng thời điểm với Luật quốc phòng năm 2005, chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2006.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 12/2005/L-CTN | Hà Nội , ngày 27 tháng 06 năm 2005 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ LUẬT
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiếp pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội Khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Điều 91 của Luật Tổ chức Quốc hội;
Căn cứ vào Điều 50 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ:
Luật quốc phòng.
Đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 06 năm 2005./.
|
| CHỦ TỊCH NƯỚC |
- 1Luật Quốc phòng 2005
- 2Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 3Hiến pháp năm 1992
- 4Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996
- 5Luật Tổ chức Quốc hội 2001
- 6Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002
Lệnh công bố Luật quốc phòng 2005
- Số hiệu: 12/2005/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 27/06/2005
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Trần Đức Lương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 3 đến số 4
- Ngày hiệu lực: 27/06/2005
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
