Lệnh của Chủ tịch nước số 09/2009/L-CTN được ban hành ngày 29 tháng 06 năm 2009 bởi Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm công bố Luật quản lý nợ công số 29/2009/QH12 đã được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 5 ngày 17 tháng 06 năm 2009. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc quản lý thống nhất, hiệu quả và an toàn nguồn nợ công của quốc gia.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Luật quản lý nợ công năm 2009 quy định chi tiết về hoạt động quản lý nhà nước đối với nợ công, bao gồm các hoạt động huy động, sử dụng vốn vay, trả nợ và các công tác giám sát, báo cáo về nợ công. Đối tượng áp dụng của Luật bao gồm các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình quản lý, sử dụng và giám sát nguồn vốn nợ công tại Việt Nam.
Nội dung cốt lõi của các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
Phần mở đầu của Luật quản lý nợ công năm 2009 tập trung định hình khung pháp lý căn bản, định nghĩa các khái niệm then chốt và thiết lập các nguyên tắc quản lý cốt lõi:
- Phạm vi điều chỉnh (Điều 1): Xác định rõ phạm vi quản lý nhà nước đối với nợ công. Nợ công theo quy định bao gồm ba thành phần chính: nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương.
- Đối tượng áp dụng (Điều 2): Quy định cụ thể các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị thụ hưởng, sử dụng vốn vay, các tổ chức tài chính, tín dụng và các cá nhân tham gia vào quy trình vay, bảo lãnh, sử dụng và hoàn trả nợ công.
- Giải thích từ ngữ (Điều 3): Định nghĩa chi tiết các thuật ngữ chuyên ngành tài chính công để đảm bảo tính thống nhất trong áp dụng thực tế. Trong đó, nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài được ký kết dưới danh nghĩa Nhà nước hoặc Chính phủ. Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ do doanh nghiệp, tổ chức tài chính vay được Chính phủ cam kết trả nợ thay nếu bên đi vay không thực hiện đúng nghĩa vụ. Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành.
- Nguyên tắc quản lý nợ công (Điều 4): Thiết lập các nguyên tắc tối cao bao gồm: Nhà nước quản lý thống nhất về nợ công từ khâu huy động, phân bổ, sử dụng đến trả nợ; bảo đảm an toàn nợ công và an ninh tài chính quốc gia; vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, tiết kiệm; tự chịu trách nhiệm chi trả đối với các khoản vay về cho vay lại hoặc được bảo lãnh; và bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quản lý nợ công.
Hiệu lực thi hành
Lệnh công bố của Chủ tịch nước có hiệu lực ngay khi ban hành. Luật quản lý nợ công năm 2009 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho công tác quản lý tài chính vĩ mô.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 05/2009/L-CTN | Hà Nội, ngày 29 tháng 06 năm 2009 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ LUẬT
CHỦ TỊCH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ Điều 91 của Luật tổ chức Quốc hội;
Căn cứ Điều 57 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ:
Luật quản lý nợ công
Đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2009./.
|
| CHỦ TỊCH |
Lệnh công bố Luật quản lý nợ công 2009
- Số hiệu: 05/2009/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 29/06/2009
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Nguyễn Minh Triết
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 371 đến số 372
- Ngày hiệu lực: 29/06/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
