Lệnh công bố Luật luật sư năm 2006 là văn bản pháp lý quan trọng do Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành nhằm công bố Luật luật sư đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006. Văn bản này đánh dấu bước phát triển mới trong việc hoàn thiện thể chế về luật sư và hành nghề luật sư tại Việt Nam, góp phần bảo vệ công lý và quyền tự do dân chủ của công dân.
Phạm vi áp dụng của văn bản tập trung vào việc xác lập các quy định nền tảng cho hoạt động hành nghề luật sư, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, cũng như cơ chế quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này. Đối tượng áp dụng bao gồm các luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có liên quan đến hoạt động luật sư tại Việt Nam.
Phạm vi điều chỉnh của Luật Luật sư (Điều 1)
- Quy định cụ thể về tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề luật sư, quyền và nghĩa vụ của luật sư trong quá trình hoạt động.
- Xác định rõ các hình thức tổ chức hành nghề luật sư và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trên phạm vi cả nước.
- Quy định chi tiết về thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư và hành nghề luật sư nhằm đảm bảo tính thượng tôn pháp luật.
Định nghĩa về Luật sư (Điều 2)
- Luật sư được định nghĩa là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
- Khẳng định vị thế pháp lý độc lập của luật sư, là chủ thể cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động nghề nghiệp của mình.
Chức năng xã hội của luật sư (Điều 3)
- Hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm mục đích bảo vệ công lý, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
- Góp phần bảo vệ tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Nguyên tắc hành nghề luật sư (Điều 4)
- Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật: Mọi hoạt động hành nghề của luật sư phải tuyệt đối nằm trong khuôn khổ quy định của pháp luật.
- Tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp: Đảm bảo tính chuẩn mực, giữ gìn uy tín và danh dự của nghề nghiệp luật sư trước xã hội.
- Độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan: Luật sư phải giữ vững tính độc lập, không bị can thiệp bất hợp pháp và luôn tôn trọng sự thật khách quan trong quá trình giải quyết vụ việc.
- Sử dụng các biện pháp hợp pháp: Chỉ được phép sử dụng các biện pháp mà pháp luật cho phép để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.
- Chịu trách nhiệm pháp lý: Luật sư phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hành vi và kết quả hoạt động nghề nghiệp của mình.
Về hiệu lực thi hành, Luật luật sư năm 2006 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 18 tháng 12 năm 2006, thay thế cho Pháp lệnh luật sư năm 2001, tạo cơ sở pháp lý vững chắc và đồng bộ hơn cho sự phát triển của đội ngũ luật sư trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 06/2006/L-CTN | Hà Nội , ngày 12 tháng 07 năm 2006 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ LUẬT
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiếp pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội Khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ Điều 91 của Luật Tổ chức Quốc hội;
Căn cứ Điều 50 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ
Luật luật sư
Đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 06 năm 2006./.
|
| CHỦ TỊCH NƯỚC |
- 1Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 2Luật Luật sư 2006
- 3Hiến pháp năm 1992
- 4Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996
- 5Luật Tổ chức Quốc hội 2001
- 6Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002
Lệnh công bố Luật luật sư năm 2006
- Số hiệu: 06/2006/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 12/07/2006
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Nguyễn Minh Triết
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 3 đến số 4
- Ngày hiệu lực: 12/07/2006
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
