Ngày 27 tháng 06 năm 2005, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Lệnh số 12/2005/L-CTN về việc công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan năm 2005. Đây là văn bản pháp lý nền tảng đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của ngành hải quan Việt Nam hướng tới hiện đại hóa, đơn giản hóa thủ tục hành chính và hội nhập sâu rộng với nền kinh tế toàn cầu.
Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng áp dụng
Văn bản này công bố các nội dung sửa đổi, bổ sung trực tiếp vào Luật Hải quan năm 2001 nhằm điều chỉnh các hoạt động quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Đối tượng áp dụng bao gồm người khai hải quan, cơ quan hải quan, công chức hải quan và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu và quản lý hải quan.
Nội dung cốt lõi của Luật Hải quan sửa đổi năm 2005
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan năm 2005 tập trung vào việc cải cách toàn diện quy trình thủ tục, chuyển từ phương thức quản lý thủ công, kiểm tra trực tiếp sang quản lý hiện đại dựa trên đánh giá rủi ro. Các nội dung trọng tâm bao gồm:
1. Áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro trong kiểm tra hải quan
- Thay đổi căn bản phương thức kiểm tra hải quan bằng việc áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro. Cơ quan hải quan thực hiện phân tích thông tin, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của chủ hàng để quyết định hình thức và mức độ kiểm tra phù hợp.
- Giảm thiểu tối đa tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa đối với các doanh nghiệp có lịch sử chấp hành tốt pháp luật hải quan, tập trung nguồn lực kiểm tra vào các đối tượng có nguy cơ vi phạm cao.
2. Thừa nhận pháp lý và triển khai thủ tục hải quan điện tử
- Chính thức thừa nhận giá trị pháp lý của chứng từ điện tử trong hồ sơ hải quan, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc triển khai thí điểm và áp dụng rộng rãi thủ tục hải quan điện tử (e-Customs).
- Quy định việc ưu tiên đầu tư, ứng dụng công nghệ thông tin và trang thiết bị kỹ thuật hiện đại trong hoạt động kiểm tra, giám sát hải quan nhằm rút ngắn thời gian thông quan và giảm chi phí cho doanh nghiệp.
3. Quy định cụ thể về thời hạn và địa điểm làm thủ tục hải quan
- Người khai hải quan được lựa chọn địa điểm làm thủ tục hải quan tại trụ sở Chi cục Hải quan cửa khẩu hoặc tại các địa điểm khác ngoài cửa khẩu theo quy định của pháp luật.
- Quy định thời hạn nghiêm ngặt đối với công chức hải quan trong việc tiếp nhận, đăng ký và kiểm tra hồ sơ hải quan (chậm nhất là 02 giờ làm việc kể từ thời điểm tiếp nhận đầy đủ hồ sơ).
- Thời hạn hoàn thành kiểm tra thực tế hàng hóa được giới hạn tối đa là 08 giờ làm việc kể từ thời điểm người khai hải quan xuất trình đầy đủ hàng hóa. Trường hợp hàng hóa thuộc diện kiểm tra chuyên ngành hoặc có số lượng lớn, phức tạp thì thời hạn có thể được kéo dài nhưng không quá 02 ngày.
4. Nâng cao vai trò của công tác kiểm tra sau thông quan
- Xác định kiểm tra sau thông quan là biện pháp quản lý trọng tâm nhằm kiểm tra tính xác thực của các nội dung đã khai báo sau khi hàng hóa đã được thông quan và giải phóng.
- Thời hạn tiến hành kiểm tra sau thông quan được quy định cụ thể là trong vòng 05 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan đối với các trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế và hải quan.
5. Quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan
- Người khai hải quan có quyền được cơ quan hải quan cung cấp thông tin, hướng dẫn làm thủ tục, xem trước hàng hóa, lấy mẫu hàng hóa dưới sự giám sát của công chức hải quan trước khi khai hải quan.
- Đồng thời, người khai hải quan phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của các nội dung đã khai và các chứng từ đã nộp, xuất trình.
Hiệu lực thi hành và Hướng dẫn áp dụng
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan năm 2005 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2006. Các quy định trước đây trái với Luật này đều bị bãi bỏ. Chính phủ và các bộ, ngành liên quan có trách nhiệm ban hành các văn bản dưới luật để hướng dẫn chi tiết thi hành các điều khoản được giao trong Luật, đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất trong quá trình thực hiện trên phạm vi cả nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 04/2005/L-CTN | Hà Nội , ngày 24 tháng 06 năm 2005 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ LUẬT
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiếp pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội Khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Điều 91 của Luật Tổ chức Quốc hội;
Căn cứ vào Điều 50 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ:
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan.
Đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 06 năm 2005./.
|
| CHỦ TỊCH NƯỚC |
- 1Luật Hải quan sửa đổi 2005
- 2Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 3Hiến pháp năm 1992
- 4Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996
- 5Luật Hải quan 2001
- 6Luật Tổ chức Quốc hội 2001
- 7Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002
Lệnh công bố Luật Hải quan sửa đổi năm 2005
- Số hiệu: 04/2005/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 24/06/2005
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Trần Đức Lương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 29 đến số 30
- Ngày hiệu lực: 24/06/2005
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
