Lệnh của Chủ tịch nước công bố Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 (được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006) là văn bản pháp lý quan trọng đánh dấu bước ngoặt trong việc hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam. Văn bản này chính thức đưa Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 vào đời sống pháp lý, tạo hành lang vững chắc bảo vệ quyền lợi cho người lao động và người sử dụng lao động.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 xác định rõ giới hạn pháp lý và các nhóm đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của luật, cụ thể:
- Phạm vi điều chỉnh (Điều 1): Luật quy định toàn diện về chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động; cơ quan, tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội; quỹ bảo hiểm xã hội; thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội và giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm về bảo hiểm xã hội.
- Đối tượng áp dụng (Điều 2): Áp dụng đối với người lao động là công dân Việt Nam tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp; người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc; và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trực tiếp đến hoạt động bảo hiểm xã hội.
Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm xã hội (Điều 3)
Để đảm bảo tính công bằng, bền vững và hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội, Luật thiết lập các nguyên tắc cốt lõi sau:
- Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính toán khoa học dựa trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có sự chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội.
- Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm thất nghiệp được xác định dựa trên tiền lương, tiền công của người lao động. Đối với bảo hiểm xã hội tự nguyện, mức đóng được tính trên thu nhập do người lao động tự lựa chọn nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định.
- Người lao động có sự chuyển dịch giữa khu vực công và tư, hoặc giữa các hình thức bảo hiểm (vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện) đều được cộng dồn thời gian để hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất.
- Quỹ bảo hiểm xã hội phải được quản lý tập trung, thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và được Nhà nước bảo hộ, áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn và tăng trưởng quỹ.
- Thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội phải bảo đảm tính đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, giải quyết kịp thời và đầy đủ quyền lợi cho người tham gia.
Chính sách của Nhà nước về bảo hiểm xã hội (Điều 4)
Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc định hướng, hỗ trợ và bảo đảm sự phát triển bền vững của hệ thống bảo hiểm xã hội thông qua các chính sách vĩ mô:
- Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan, tổ chức và cá nhân tích cực tham gia bảo hiểm xã hội.
- Ban hành các chính sách hỗ trợ tài chính phù hợp cho người lao động khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp, nhằm mở rộng diện bao phủ an sinh xã hội.
- Bảo hộ quỹ bảo hiểm xã hội, thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro để bảo toàn và tăng trưởng nguồn quỹ một cách an toàn, hiệu quả.
- Áp dụng các chính sách ưu đãi về thuế đối với hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội nhằm tối đa hóa lợi nhuận quay vòng phục vụ người lao động.
Hiệu lực thi hành
Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2007. Tuy nhiên, để đảm bảo lộ trình chuẩn bị kỹ lưỡng về hạ tầng và nguồn lực, các quy định về bảo hiểm xã hội tự nguyện bắt đầu áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2008, và các quy định về bảo hiểm thất nghiệp chính thức áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2009.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 13/2006/L-CTN | Hà Nội , ngày 12 tháng 07 năm 2006 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ LUẬT
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiếp pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội Khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ Điều 91 của Luật Tổ chức Quốc hội;
Căn cứ Điều 50 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ
Luật bảo hiểm xã hội
Đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 06 năm 2006./.
|
| CHỦ TỊCH NƯỚC |
- 1Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 2Luật Bảo hiểm xã hội 2006
- 3Hiến pháp năm 1992
- 4Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996
- 5Luật Tổ chức Quốc hội 2001
- 6Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002
Lệnh công bố Luật bảo hiểm xã hội 2006
- Số hiệu: 13/2006/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 12/07/2006
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Nguyễn Minh Triết
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 9 đến số 10
- Ngày hiệu lực: 12/07/2006
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
