Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 – ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày 23/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Văn Dinh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Quàng Ngọc Tiên.

2. Ông Lò Văn Sung.

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Công Hoàn – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2, Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thơ - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2, Điện Biên tiến hành tiến hành mở phiên tòa xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2025/HSST ngày 28 tháng 11 năm 2025. Tại điểm cầu trung tâm, hội trường xét xử của trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Điện Biên, điểm cầu thành phần tại phân trại tam giam N S. Theo quyết định đưa vụ án xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Cao C (Không có tên gọi khác) - Sinh năm: 1982. Tại tỉnh Điện Biên.

Nơi cư trú: Tổ 2, xã N S, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Đức B - Đã chết và bà Nguyễn Thị G - Đã chết.

Vợ: Bùi Thị H - Sinh năm: 1977 (Đã ly hôn); chung sống như vợ chồng với bà Lù Thị H, sinh năm 1995 từ năm 2016 đến năm 2020; Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 01/01/2011 bị Ủy Ban nhân dân tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 24 tháng, ngày 05/11/2012 đã chấp hành xong, đã được xóa tiền sự; Ngày 29/01/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xử phạt 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 19/10/2009 chấp hành xong, đã được xóa án tích; Ngày 22/12/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xử phạt 01 năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 10/8/2023 chấp hành xong, đã được xóa án tích.

Ngày 27/8/2025, bị tổ công tác Công an xã N S bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị bắt tạm giữ từ ngày 27/8/2025, tạm giam từ ngày 05/9/2025 đến nay có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Cao C là bà Lê Thị Diệu - Trợ giúp viên pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên - Có mặt.

Người tiến hành tố tụng là Thư ký tại điểm cầu thành phần: Bà Nguyễn Thị Nhung – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 – Điện Biên – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 27/8/2025 Cao C một mình đi bộ từ nhà đến khu vực đường thuộc tổ 3, xã N S, tỉnh Điện Biên để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, C gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 01 túi Methamphetamine với giá 150.000 đồng. Mua xong, C cất ma túy vào túi quần bên phải đang mặc trên người rồi đi bộ về nhà, trên đường về đến khu vực tổ 2, xã N S, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an xã N S, tỉnh Điện Biên phát hiện, bắt quả tang thu giữ của C 01 túi Methamphetamine có khối lượng 0,34 gam mục đích để sử dụng cho bản thân.

Vật chứng, đồ vật, tài liệu thu giữ: 0,34 gam Methamphetamine gửi toàn bộ giám định hoàn lại 0,24 gam; 01 túi nilon màu đen.

Tại bản kết luận giám định số: 900/KL-KTHS ngày 03/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Cao C có khối lượng 0,34 gam là chất ma túy: Loại Methamphetamine.

Hoàn lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định kèm theo.

Bị cáo khai số ma túy bị thu giữ bị cáo mua được của 01 người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ nên không có cơ sở điều tra làm rõ.

Ngày 27/8/2025, Công an xã N S đã tiến hành test ma túy bằng nước tiểu đối với C cho kết quả dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine. Nhưng C không thuộc trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Ngày 06/9/2025 Công an xã N S, tỉnh Điện Biên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Hình thức xử phạt chính: Phạt cảnh cáo đối với C về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

Tại bản cáo trạng số: 14/CT-VKSKV2, ngày 26 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Điện Biên đã truy tố C về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo C về cả tội danh và điều luật áp dụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Cao C 03 (B) năm 04 (bốn) tháng đến 03 (B) năm 10 (mười) tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đối với 0,24 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định; 01 túi nilon màu đen miệng túi có nẹp nhựa cố định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật liên quan đến việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy B n thường vụ Quốc hội đề nghị miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đồng ý với quyết định truy tố của Viện kiểm sát về tội danh điều luật áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, bị cáo không có công việc ổn định, kinh tế gia đình rất khó khăn, sinh sống ở vùng sâu vùng xa, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy B n thường vụ quốc hội, miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất Kiểm sát viên đề nghị.

Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo, không có ý kiến gì thay đổi bổ sung, bị cáo xin được miễn án phí, và hình phạt bổ sung, lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo Cao C khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng, bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Ngày 27/8/2025, tại khu vực tổ 3, xã N S, tỉnh Điện Biên bị cáo mua được 01 túi Methamphetaimne của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên địa chỉ với giá 150.000 đồng, có khối lượng 0,34 gam. Sau khi mua được ma túy bị cáo quay về nhà đến khu vực tố 2, xã N S thì bị tổ công tác Công an xã N S bắt quả tang bị cáo có hành vi cất giấu trái phép 0,34 gam Methamphetaimne, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Điện Biên theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm :

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam"

[2] Xét về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cho thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đều thừa nhận rằng khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức rõ ma túy là một chất gây nghiện, gây tổn hại cho sức khỏe của con người cả về thể xác và tinh thần, là nguồn cơn, gốc rễ gây nên nhiều tệ nạn xã hội khác. Chính quyền địa pH cũng như trên thông tin đại chúng luôn tuyên truyền về tác hại của ma túy đối với cơ thể con người, cũng như chính sách của Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma túy. Nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện hút của bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố tình thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình đã gây ra.

[3] Xét về nhân thân; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo C sinh ra và lớn lên được bố mẹ nuôi dưỡng, đi học hết 9/12 sau đó nghỉ học ở nhà lao động sản xuất phụ giúp gia đình. Đến tuổi trưởng thành xây dựng gia đình riêng. Ngày 01/01/2011 bị Ủy B n nhân dân tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 24 tháng, ngày 05/11/2012 đã chấp hành xong, đã được xóa tiền sự; Ngày 29/01/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xử phạt 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 19/10/2009 chấp hành xong. Ngày 22/12/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xử phạt 01 năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 10/8/2023 chấp hành xong, hiện đều đã được xóa án tích. Những tội phạm lần trước bị Tòa án xử phạt đều là tội phạm về ma túy. Bị cáo là cha của những đứa con còn nhỏ đang trong độ tuổi đi học, sau khi mãn hạn tù trở về địa pH lẽ ra bị cáo phải biết lấy đó làm bài học cho bản thân, tu chí làm ăn lương thiện, sống tuân thủ pháp luật, rèn luyện bản thân để các con noi theo mới phải, nhưng bị cáo không làm được như vậy. Sau khi mãn hạn tù trở về địa pH bị cáo lại tiếp tục lao vào con đường sử dụng, nghiện chất ma túy, để thỏa mãn cho nhu cầu bản thân bị cáo cố tình mua ma túy về tàng trữ để sử dụng, bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy lâu năm, có nhận thân xấu. Do vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Như vậy đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp cần được xem xét chấp nhận. Đề nghị về mức hình phạt của người bào chữa đối với bị cáo chưa phù hợp với tính chất mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Những đề nghị khác của người bào chữa cho bị cáo là có cơ sở chấp nhận. Từ những phân tích trên, khi quyết định hình phạt HĐXX cần xét, trong cuộc sống việc tuân thủ pháp luật, nhân thân, khối lượng ma túy, hành vi mà bị cáo đã thực hiện và ý kiến của bị cáo tại phiên tòa, như vậy cần thiết áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ bị cáo đã gây ra, để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Qua biên bản xác minh của cơ quan điều tra thì gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, gia đình không có tài sản gì, bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy khó có khả năng thi hành án. Do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự là phù hợp.

[5] Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 0,24 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định; 01 túi nilon màu đen miệng túi có nẹp nhựa cố định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật liên quan đến việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên, địa chỉ nên không có cơ sở điều tra làm rõ. Hội đồng xét xử không xem xét.

Ngày 27/8/2025, Công an xã N S đã tiến hành test ma túy bằng nước tiểu đối với bị cáo cho kết quả dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine. Nhưng bị cáo không thuộc trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Ngày 06/9/2025 Công an xã N S, tỉnh Điện Biên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 08/QĐ-XPHC. Hình thức xử phạt chính: Phạt cảnh cáo đối với bị cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là đúng quy định pháp luật.

[6] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy B n thường vụ Quốc hội thì bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Tuy nhiên gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo xin miễn án phí nên áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy B n thường vụ Quốc hội cần miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo.

[7] Xét về hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Điều tra viên, Kiểm sát viên, từ khi khởi tố vụ án, quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đảm bảo về hình thức, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Cao C phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Cao C 03 (B) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 27/8/2025.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,24 gam Methamphetamine; 01 túi nilon màu đen miệng túi có nẹp nhựa cố định.

Số vật chứng trên đã được niêm phong và bàn giao theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2, Điện Biên vào ngày 27/11/2025.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy B n thường vụ Quốc hội 14, miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo.

Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 23/12/2025.

Nơi nhận:

  • - VKSND Khu vực 2, ĐB;
  • - Phân trại tạm giam N S;
  • - THADS tỉnh ĐB;
  • - Phòng GĐ,TTr- KT & THA TA tỉnh ĐB;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - Phòng HSNV CA tỉnh ĐB;
  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - PC10 CA tỉnh Điện Biên;
  • - UBND xã N S thay cho thông báo;
  • - Lưu hồ sơ THA.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lò Văn Dinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐIỆN BIÊN về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Cường phạm tội tràng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger