Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2026/HS-PT

Ngày 06 - 01 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Doanh.

Các Thẩm phán: Ông Dương Văn Bản và ông Hà Quang Huy

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa:

Ông Nông Quốc Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 06/01/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 110/2025/TLPT-HS ngày 20/10/2025 đối với bị cáo Trương Văn D do có kháng cáo của bị cáo Trương Văn D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2025/HS-ST ngày 11/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên.

Bị cáo có kháng cáo: Trương Văn D (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 21/10/1995 tại tỉnh Bắc Kạn (nay là tỉnh Thái Nguyên); nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: thôn T, xã C, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Phúc D1 (sinh năm 1969) và bà Hoàng Thị H (sinh năm 1972); vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Ngày 07/10/2019 bị Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau” bằng hình thức “Phạt tiền” với số tiền là 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo Quyết định số: 315/QĐ-XPHC. Ngày 04/03/2020, D đã chấp hành xong hình phạt trên.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã C, tỉnh Thái Nguyên - Có mặt tại phiên tòa.

* Các bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị:

- Nông Văn T, sinh năm 1988; trú tại: Thôn B, xã P, tỉnh Thái Nguyên - Có mặt.

- Lý Hoàng A, sinh năm 1991; trú tại: Thôn T, xã C, tỉnh Thái Nguyên - Có mặt.

* Trong vụ án còn có nguyên đơn dân sự Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Thái Nguyên không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07/01/2025, Trạm Kiểm lâm C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn phối hợp với Ủy ban nhân dân (UBND) xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (nay là UBND xã P, tỉnh Thái Nguyên) và Công an xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (nay là Công an xã P, tỉnh Thái Nguyên) tiến hành kiểm tra hiện trường tại khu rừng Khu Ỗ, thuộc thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (nay thôn Bản Lạnh, xã P, tỉnh Thái Nguyên). Quá trình kiểm tra phát hiện một lô rừng bị phát phá, đã đốt thực bì, gốc các cây gỗ bị cắt hạ cách mặt đất từ 10cm đến 25cm đã cháy đen nham nhở, phần thân cây gỗ nằm rải rác tại hiện trường; một số thân cây được cắt thành nhiều khúc ngắn từ 0,9m đến 1,3m tập kết tại chân lô. Đối chiếu với Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng tại Quyết định số 1794/QĐ-UBND ngày 26/10/2018 của UBND tỉnh B thì vị trí lô rừng nêu trên thuộc thửa số 844, lô 40; khoảnh 12; tiểu khu C, khu R thuộc thôn Bản Lạnh, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; trạng thái là rừng tự nhiên (TXP), chức năng là rừng sản xuất; chủ quản lý là UBND xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (nay là UBND xã P, tỉnh Thái Nguyên). Diện tích rừng bị thiệt hại là 17.870 m² (1,787ha); Lâm sản thiệt hại gồm 1.251 cây, khúc gỗ tròn tự nhiên thông thường từ nhóm V đến nhóm VIII, có tổng khối lượng 33.662m³, người thực hiện hành vi phát phá chưa xác định được.

Trong thời gian xác minh vụ việc, ngày 08/01/2025, các bị cáo Nông Văn T, Trương Văn D và Lý Hoàng A đã tự đến UBND xã T để đầu thú về việc cùng nhau thực hiện hành vi phát, phá khu rừng trên và tự nguyện giao nộp công cụ phát phá rừng gồm cưa xăng và dao cho Trạm Kiểm lâm C1

Ngày 09/01/2025, Trạm Kiểm lâm Cẩm Giàng tiếp tục phối hợp với UBND xã T, Công an xã T và các thành phần liên quan tiến hành xác minh, kiểm tra lại hiện trường. Sau khi kiểm tra xong, Trạm Kiểm lâm C đã bàn giao toàn bộ 1.251 cây, khúc gỗ tròn có tổng khối lượng 33.662 m³ cho UBND xã T trông coi, bảo quản. Đại diện UBND xã T nhận bàn giao là ông Luân Long K - Phó Chủ tịch UBND xã.

Ngày 14/01/2025, Hạt Kiểm lâm huyện B, tỉnh Bắc Kạn phối hợp với chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng và những người có liên quan tiến hành khám nghiệm hiện trường. Kết quả sử dụng máy định vị toàn cầu (GPS-MAP 78) để đo đạc, thống kê, xác định tổng diện tích rừng bị phát phá trái phép tại thửa số 844, lô D, khoảnh 12, tiểu khu C khu R, thôn Bản Lạnh, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn là 17.080m². Lâm sản thiệt hại gỗ tròn tự nhiên thông thường từ nhóm V đến nhóm VIII số lượng 1.251 cây, khúc gỗ tròn tự nhiên, khối lượng 33.662m³. Trên diện tích bị phát phá chưa tiến hành trồng lại cây. Đối chiếu với bản đồ quy hoạch 03 loại rừng ban hành kèm theo Quyết định số 1794/QĐ-UBND ngày 26/10/2018 của UBND tỉnh B về việc phê duyệt kết quả rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Bắc Kạn và Quyết định số 207/QĐ-UBND ngày 05/02/2024 của UBND huyện B về công bố hiện trạng rừng năm 2024 trên địa bàn huyện B thì phần diện tích rừng bị phát phá tại thửa số 844, lô D, khoảnh 12, tiểu khu C được quy hoạch là trạng thái rừng tự nhiên, chức năng rừng sản xuất. Đối với 1.251 cây, khúc gỗ tròn có khối lượng 33,662m³, Trạm Kiểm lâm Cẩm Giàng đã bàn giao cho UBND xã T trông coi, bảo quản, đến thời điểm khám nghiệm số gỗ trên không còn tại hiện trường nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 23/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Bắc Kạn, kết luận: 1.251 khúc gỗ tròn tự nhiên thông thường (từ nhóm V đến nhóm VIII) có tổng khối lượng 33.662m³, có tổng giá trị là 41.141.920₫ (Bốn mươi mốt triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn chín trăm hai mươi đồng).

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Nông Văn T, Trương Văn D và Lý Hoàng A khai nhận: Vào khoảng tháng 02/2024, Nông Văn T, Lý Hoàng A và Trương Văn D rủ nhau đi vào khu R thuộc thôn Bản Lạnh, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (trước sáp nhập) để phát phá đồi cây tự nhiên, với mục đích trồng cây M phát triển kinh tế gia đình. Sau đó T, D, A mỗi người cầm theo một con dao đi vào khu rừng Khu Ổ (T, D mang theo một con dao Quắm, Anh mang theo một con dao tông) cùng nhau phát cỏ, bụi rậm và dây leo bên dưới tán cây, còn các cây tạp và cây vầu thì không phát. Đến khoảng tháng 4/2024 thì phát xong, rồi cùng nhau đi mua cây Mỡ về trồng dưới tán cây và ước lượng chia nhau mỗi người một mảnh để chăm sóc. Sau đó do trời mưa bão làm cành cây gẫy, đổ xuống cây Mỡ nên T, D, A bàn nhau đi phát, phá hết các cây tự nhiên trong khu rừng để trồng lại cây Mỡ. Đến khoảng đầu tháng 10/2024, T, D và A đi vào khu rừng trên để phát, phá hết các cây tự nhiên, T mang theo một con dao quắm, một máy cưa lốc, D mang theo một con dao quắm, còn A mang theo một con dao tông (các con dao này đều được T, D, Anh sử dụng phát phá từ đầu năm). Quá trình phát, phá thì T, D, A sử dụng dao chặt, phá các cây nhỏ, còn các cây gỗ tự nhiên to thì thay nhau sử dụng máy cưa của T để cưa đổ các cây tự nhiên, rồi cắt thành từng khúc ngắn, dài khác nhau, trung bình mỗi khúc dài khoảng 01m. Đến khoảng tháng 11/2024 thì phát phá xong. Sau đó, T, D, Anh hộ nhau lao các khúc cây gỗ tự nhiên đã cắt thành khúc xuống tập kết ở chân lô, với mục đích để mang về làm củi. Đến đầu tháng 01/2025, không rõ ai đốt thực bì khu rừng mà T, D, A phát, phá. Do biết khu rừng phát, phá đã bị cơ quan chức năng phát hiện nên ngày 08/01/2025, T, D, Anh tự rủ nhau đến UBND xã T để đầu thú về hành vi phát, phá rừng của mình nhằm được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, đồng thời giao nộp các dụng cụ sử dụng vào việc phát, phá rừng cho Cơ quan Kiểm lâm. Bản thân T, D, A trình bày không được tiêu hủy, cất giấu 1.251 cây, khúc gỗ để tại hiện trường, cũng không biết ai đã tiêu hủy số tang vật trên.

Về vật chứng của vụ án: 01 (một) cưa máy nhãn hiệu HONDA CX68, màu đỏ đen, lưỡi cưa bằng kim loại có quấn xích dài 50cm, máy cũ, đã qua sử dụng (không kiểm tra tình trạng máy); 01 (một) con dao quắm có một lưỡi sắc, cán bằng sắt, phần cán dài 30cm; phần lưỡi dao bằng kim loại dài 24cm, rộng 3,5cm, dao cũ đã qua sử dụng; 01 (một) con dao quắm có một lưỡi sắc, có một phần cán bằng gỗ dài 7,7cm; phần lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm, rộng 3cm, dao cũ đã qua sử dụng; 01 (một) con dao tông có một lưỡi sắc, cán và lưỡi dao bằng sắt dài 37cm, rộng 5,5cm, dao cũ đã qua sử dụng; Đối với 1.251 khúc, cây gỗ có tổng khối lượng 33,662m³ Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Phần dân sự: Nguyên đơn dân sự UBND xã P, tỉnh Thái Nguyên đã uỷ quyền cho Hoàng Văn K1 - Phó Trưởng phòng Kinh tế xã tham gia tố tụng đã có đơn đề nghị giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại tài sản cho Nhà nước đối với những tài sản đã có kết luận định giá với số tiền cụ thể là 41.141.920đ (Bốn mươi mốt triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn chín trăm hai mươi đồng).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2025/HS-ST ngày 11/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên đã quyết định:

[1]. Tuyên bố: Các bị cáo Nông Văn T, Trương Văn D, Lý Hoàng A đều phạm tội " Hủy hoại rừng".

[2]. Về hình phạt:

  • - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 243; Điều 17; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt: Bị cáo Nông Văn T 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án 11/9/2025.
  • Giao bị cáo Nông Văn T cho Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 243; Điều 17; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt: Bị cáo Lý Hoàng A 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án 11/9/2025.
  • Giao bị cáo Lý Hoàng A cho Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 243; Điều 17; Điều 38; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt: Bị cáo Trương Văn D 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/9/2025, bị cáo Trương Văn D kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ với các lý do: Bản án sơ thẩm xử tù giam là quá nặng, quá nghiêm khắc, không phù hợp với bản chất vụ án và chính sách khoan hồng và nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

Tại phiên tòa:

Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến:

Cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trương Văn D là đúng người, đúng tội, tuy nhiên hình phạt áp dụng đối với bị cáo là quá nghiêm khắc. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ mới là đã nộp số tiền phải bồi thường, đã trồng lại rừng trên toàn bộ phần diện tích rừng bị phát phá, vai trò của bị cáo thấp hơn các bị các khác. Ngoài ra, bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội nghiêm trọng đủ điều kiện áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

  • Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.
  • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 243; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58 Điều 36 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo 30 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo đảm bảo về chủ thể và thời hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, nên được HĐXX xem xét theo quy định.

[2] Tại phiên tòa, qua phần xét hỏi công khai bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã tuyên. Lời khai nhận phù hợp với lời khai của các bị cáo Nông Văn T, Lý Hoàng A; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng đầu tháng 10 năm 2024, các bị cáo Nông Văn T, Trương Văn D và Lý Hoàng A đã cùng nhau thực hiện hành vi dùng dao và máy cưa phát, phá trái phép diện tích 17.080m² (Mười bảy nghìn không trăm tám mươi mét vuông) rừng tự nhiên thuộc thửa số 844, lô 40, khoảnh 12, tiểu khu C, khu rừng Khu Ổ thuộc thôn Bản Lạnh, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (sau sáp nhập hiện nay khu rừng trên thuộc thôn Bản Lạnh, xã P, tỉnh Thái Nguyên), gây thiệt hại 1.251 cây, khúc gỗ tròn tự nhiên thông thường từ nhóm V đến nhóm VIII, với tổng khối lượng 33.662m³, có tổng giá trị là 41.141.920đ (Bốn mươi mốt triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn chín trăm hai mươi đồng).

Cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Hủy hoại rừng” là đúng người, đúng tội, không oan.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Trương Văn D

- Kháng cáo xin được cải tạo không giam giữ

Cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo gây ra, nhân thân, xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả và bị cáo có ông ngoại là Hoàng Văn T1 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và quyết định mức hình phạt 36 (Ba mươi sáu) tháng tù là phù hợp, đảm bảo tính giáo dục cho bị cáo và tính răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Trong giai đoạn phúc thẩm, bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền thi hành án là 8.713.973 đồng; có xác nhận đã trồng lại rừng trên toàn bộ diện tích đất đã phát phá. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới nên bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tội phạm bị cáo thực hiện là tội nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này thì hiện nay bị cáo không có hành vi vi phạm pháp luật khác. Tại phiên tòa phúc thẩm, theo lời khai của Nông Văn T, Lý Hoàng A thì trong quá trình phát phá rừng, bị cáo Trương Văn D không thường xuyên thực hiện hành vi phát phá mà chủ yếu do Nông Văn T và Lý Hoàng A thực hiện nên tính chất nguy hiểm hành vi của bị cáo D đã thực hiện là thấp hơn hai bị cáo còn lại. Do vậy, có đủ căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự và chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đảm bảo tính giáo dục cho bị cáo và tính răn đe, phòng ngừa chung. Vì vậy, xin cải tạo không giam giữ của bị cáo được chấp nhận.

Bị cáo là người lao động tự do, thu nhập không ổn định, sống phụ thuộc gia đình, không có tài sản riêng nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

- Đối với kháng cáo xin hưởng án treo: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng, nhân thân xấu nên không có căn cứ cho hưởng án treo nên kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận.

- Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Do HĐXX đã quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn nên kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận.

[4] Đối với số tiền 8.713.973đ (Tám triệu bảy trăm mười ba nghìn chín trăm đồng bảy mươi ba đồng) bị cáo đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000448 ngày 25/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ, phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trương Văn D, sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2025/HS-ST ngày 11/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên.
  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 243; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn D phạm tội "Hủy hoại rừng".

Xử phạt bị cáo Trương Văn D 36 (ba mươi sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh T nhận quyết quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Trương Văn D cho Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Thái Nguyên nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn áp dụng việc khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo Trương Văn D.

2. Ghi nhận bị cáo Trương Văn D đã nộp số tiền 8.713.973đ (Tám triệu bảy trăm mười ba nghìn chín trăm đồng bảy mươi ba đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000448 ngày 25/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Bị cáo Trương Văn D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Phòng Hồ sơ CA tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND khu vực 7 - Thái Nguyên;
  • - TAND khu vực 7 - Thái Nguyên;
  • - THADS tỉnh Thái Nguyên;
  • - THADS khu vực 7 - Thái Nguyên;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Cẩm Giàng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Doanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2026/HS-PT ngày 06/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự phúc thẩm về tội hủy hoại rừng

  • Số bản án: 03/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Hủy hoại rừng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Văn Dũng phạm tội "Hủy hoại rừng"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger