Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 994/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 31/12/2025

V/v: “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Liên

Bà Nguyễn Thị Hà

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Bạch Lê Dũng - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình về “Ly hôn, nuôi con” thụ lý số: 645/2025/TLST–HNGĐ ngày 24/10/2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Phạm Ngọc B, sinh năm 1980.

Nơi đăng ký HKTT: thôn Đ, xã H, tỉnh Thanh Hóa.

Hiện tạm trú tại: Số nhà F, Đ, phường Đ, Thành phố Hà Nội.

* Bị đơn: Chị Quách Thị T, sinh năm 1987.

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: Số nhà G, đường Đ, xã D, Thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa: Anh Phạm Ngọc B và chị Quách Thị T đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn - Anh Phạm Ngọc B trình bày:

Về hôn nhân: Anh Phạm Ngọc B và chị Quách Thị T kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn ngày 04/03/2011 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa nay là xã H, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại số nhà: 0 Đ, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội nay là số nhà 06/04/172, Đ, phường Đ, Thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống, giữa anh B và chị T có nhiều bất đồng về quan điểm sống nên không hòa hợp và thường xuyên mâu thuẫn cãi nhau, vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai.

Nay anh B xác định tình cảm không còn nên anh B đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Thành phố Hà Nội giải quyết cho anh B được ly hôn với chị Quách Thị T để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Anh Phạm Ngọc B và chị Quách Thị T có 02 con chung là Phạm Thị Ngọc T1, sinh ngày 19/01/2014 và Phạm Ngọc Bình K, sinh ngày 26/09/2019. Hiện tại cả 02 con chung đều đang ở cùng chị Quách Thị T, ly hôn anh B có nguyện vọng dành quyền cho chị Quách Thị T được nuôi 02 con chung để các con chung ổn định trong sinh hoạt.

Về tài sản chung, công nợ chung, công sức: Anh Phạm Ngọc B không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn – chị Quách Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị Quách Thị T kết hôn với anh Phạm Ngọc B năm 2011, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa nay là xã H, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà thuê tại: Ngõ I, Đ, phường Đ, Thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống, giữa vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm sống nên không hòa hợp và thường xuyên mâu thuẫn cãi nhau. Chị T và anh B chính thức ly thân từ tháng 09/2025 cho đến nay. Nay anh B xin ly hôn, chị T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để cả hai ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị Quách Thị T thừa nhận, chị T và anh Phạm Ngọc B có 02 con chung là Phạm Thị Ngọc T1, sinh ngày 19/01/2014 và Phạm Ngọc Bình K, sinh ngày 26/09/2019. Hiện tại cả 02 con chung đang ở cùng chị T, ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi cả 02 con chung mà không yêu cầu anh B cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Quách Thị T và anh Phạm Ngọc B không có, tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại đơn trình bày nguyện vọng của con chung: Cháu Phạm Thị Ngọc T1 và Phạm Ngọc B Khôi có nguyện vọng được chị Quách Thị T nuôi dưỡng.

Tại phiên tòa: Anh Phạm Ngọc B và chị Quách Thị T đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; anh Phạm Ngọc B và chị Quách Thị Thanh chấp H đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Ngọc B và cho anh B được ly hôn chị Quách Thị T; về con chung: Đề nghị giao cả 02 con chung là Phạm Thị Ngọc T1, sinh ngày 19/01/2014 và Phạm Ngọc Bình K, sinh ngày 26/09/2019 cho chị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành theo như nguyện vọng của cháu T1; tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh Phạm Ngọc B; về tài sản chung, công sức, công nợ: Không xem xét; về án phí: Anh Phạm Ngọc B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Quách Thị T có hộ khẩu thường trú tại: xã D, Thành phố Hà Nội. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, việc giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Thành phố Hà Nội.

[1.2] Về sự vắng mặt của anh Phạm Ngọc B và chị Quách Thị T: Anh Phạm Ngọc B và chị Quách Thị T đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh Phạm Ngọc B và chị Quách Thị T.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Anh Phạm Ngọc B và chị Quách Thị T kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa nay là xã H, tỉnh Thanh Hóa nên hôn nhân giữa anh B và chị T là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh B cho rằng vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo anh B là do vợ chồng không có tiếng nói chung và vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 và chính thức từ tháng 09 năm 2025 cho đến nay. Nay anh B xin ly hôn anh T2 để ổn định cuộc sống.

Xét thấy: Anh Phạm Ngọc B và chị Quách Thị T đã ly thân được một thời gian, trong thời gian ly thân cả hai (anh B, chị T) đều không có giải pháp cải thiện tình cảm vợ chồng. Nay anh B cương quyết xin ly hôn với chị T nên cần xác định mâu thuẫn giữa anh B và chị T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của anh B và cho anh B được ly hôn chị T để cả hai ổn định cuộc sống.

[2.2] Về con chung: Anh Phạm Ngọc B và chị Quách Thị T có 02 con chung là: Phạm Thị Ngọc T1, sinh ngày 19/01/2014 và Phạm Ngọc Bình K, sinh ngày 26/09/2019.

Ly hôn, chị Quách Thị T có nguyện vọng nuôi dưỡng cả 02 con chung là Phạm Thị Ngọc T1 và Phạm Ngọc Bình K và anh B cũng có nguyện vọng dành quyền nuôi con cho chị T do cả 02 con chung đang ở cùng chị T. Xét thấy: Cả 02 con chung là Phạm Thị Ngọc T1 và Phạm Ngọc B K hiện đang ở cùng với chị Quách Thị T. Để ổn định trong sinh hoạt của 02 con chung nên cần giao cả 02 con chung cho chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu anh B cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét đây là sự tự nguyện của chị T nên cần chấp nhận và ghi nhận sự tự nguyện của chị T. Tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh B cho đến khi các bên có yêu cầu.

[2.4] Về tài sản chung, công sức, công nợ: Anh Phạm Ngọc B và chị Quách Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.5] Về án phí: Anh Phạm Ngọc B phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 266, 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Phạm Ngọc B và cho anh Phạm Ngọc B được ly hôn chị Quách Thị T.
  2. Về con chung: Anh Phạm Ngọc B và chị Quách Thị T có 02 con chung là: Phạm Thị Ngọc T1, sinh ngày 19/01/2014 và Phạm Ngọc Bình K, sinh ngày 26/09/2019.

    Giao con 02 con chung là: Phạm Thị Ngọc T1 và Phạm Ngọc Bình K cho chị Quách Thị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

    Anh Phạm Ngọc B có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Quách Thị T không yêu cầu anh Phạm Ngọc B cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh Phạm Ngọc B cho đến khi các bên có yêu cầu.
  4. Về tài sản chung: Không xem xét.
  5. Về án phí: Anh Phạm Ngọc B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Anh Phạm Ngọc B đã nộp 300.000 đồng (theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu: BLTU/25E số: 0013248 ngày 23 tháng 10 năm 2025) tại Phòng thi hành án Dân sự khu vực 6 – Thành phố Hà Nội.
  6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, anh Phạm Ngọc B và chị Quách Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp Hà Nội;
  • - VKSND Khu vực 6 – TP Hà Nội;
  • - CC.THADS Khu vực 6 – TP Hà Nội;
  • - UBND xã Hoằng Giang, tỉnh Thanh Hóa (Số:12/2011);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA/VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hoàng Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 994/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 994/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên ly hôn giữa nguyên đơn và bị đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger