|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LÂM ĐỒNG Bản án số: 99/2025/HS-ST Ngày: 26/12/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Chu Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
- + Ông Dương Văn Nhuận
- + Bà Trần Thị Ngọc Kim
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Trung Dũng – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Phan Minh Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 111/2025/TLST - HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với:
- Bị cáo:
Họ và tên: Võ Thị Ngọc H, sinh năm: 2000, tại: Lâm Đồng. Nơi ĐKHKTT: Số G đường B, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng; Chỗ ở: Số G đường B, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo; CCCD số: 068300011661; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Võ Văn T, sinh năm: 1973; Con bà: Nguyễn Sĩ Hồng H1, sinh năm 1975; Chồng: Nguyễn Quang Đ, sinh năm: 2000 (không đăng ký kết hôn); Bị cáo có 01 người con sinh năm 2022.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 87/2025/HS-ST ngày 28/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt Võ Thị Ngọc H 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/6/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Đ - Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
- + Bà Lê Thị V, sinh năm: 1981.
- Địa chỉ: Hẻm G đường H, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
- + Bà Trần Thị H2, sinh năm: 1992.
- Địa chỉ: Số B đường Đ, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
- + Ông Trần Văn A, sinh năm: 1996.
- Địa chỉ: Số C đường N, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
- + Ông Lê Đình H3, sinh năm: 1969.
- Địa chỉ: Số C đường H, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
- + Anh Cao Huy N, sinh năm: 2004.
- Địa chỉ: Số A đường T, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
- + Anh Phan Văn T1, sinh năm: 1998.
- Địa chỉ: Số D đường X, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Nguyễn Quốc T2, sinh năm: 1992.
- Địa chỉ: Số A đường Y, phường E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt tại phiên tòa.
- + Anh Trần P, sinh năm: 1998.
- Địa chỉ: Số I đường A, phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
- + Anh Vũ Văn M, sinh năm: 1994.
- Địa chỉ: Số A đường H, phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.
- + Anh Phạm Văn B, sinh năm: 1995.
- Địa chỉ: Số G đường T, Phường B B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm ổn định và cần tiền tiêu xài nên Võ Thị Ngọc H đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng hình thức tìm thuê xe mô tô rồi đem đi cầm cố lấy tiền. Từ ngày 11/02/2025 đến ngày 02/4/2025, H đã thực hiện 06 lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 11/02/2025, H liên hệ chị Lê Thị V để thuê xe mô tô hiệu SYM Attila, màu nâu, biển số: 49B1-188.55 với giá 1.000.000 đồng/1 tháng và yêu cầu giao xe tại địa chỉ 2 P, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi nhận xe, H sử dụng xe mô tô này để đi lại. Đến ngày 28/3/2025, H cầm chiếc xe này cho người sử dụng tài khoản facebook tên “Thành Công” (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 2.000.000 đồng, lãi suất 40.000 đồng/ngày từ ngày 28/03/2025. Đến ngày 18/4/2025, Công an P1, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (nay là Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng) phát hiện thu giữ chiếc xe này trước quán “Bida 37” địa chỉ A T, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Bị hại: chị Lê Thị V, sinh năm: 1981, Nơi cư trú: Hẻm G H, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng bị chiếm xe mô tô hiệu SYM Attila, màu nâu, biển số: 49B1-188.55.
Bản kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 05/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận chiếc xe này có giá trị còn lại là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng). Chị V đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lần thứ hai: Ngày 29/03/2025, Võ Thị Ngọc H đến cơ sở cho thuê xe của chị Trần Thị H2 tại địa chỉ: G N, phường L - Đ, Lâm Đồng thuê của chị H2 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu đen, biển kiểm soát 49K1-769.35 với giá 100.000 đồng/1 ngày, thời gian thuê từ ngày 29/3/2025 đến ngày 31/3/2025. Sau khi thuê được xe, H liên hệ với anh Nguyễn Quốc T2 qua mạng xã hội Facebook thoả thuận cầm chiếc xe này với giá 7.000.000 đồng với lãi suất 100.000 đồng/ ngày. Khoảng 09 giờ 05 ngày 30/3/2025, H điều khiển chiếc xe này đến địa chỉ: D H, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng để giao xe cho anh T2 và nhận tiền bằng hình thức chuyển khoản. Sau khi nhận được số tiền 7.000.000 đồng, H đã tiêu xài hết.
Bị hại: chị Trần Thị H2, sinh năm: 1992, nơi cư trú: 2 Đ, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng bị chiếm đoạt xe mô tô hiệu Honda Vision, màu đen, biển kiểm soát 49K1-769.35.
Bản kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 05/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận chiếc xe này có giá trị còn lại là 20.500.000 đồng (hai mươi triệu năm trăm ngàn đồng). Chị H2 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Quốc T2 – sinh năm 1992, nơi cư trú: A Y, phường E, tỉnh Đắk Lắk. Anh T2 không yêu cầu H phải trả lại cho anh số tiền 7.000.000 đồng.
Lần thứ ba: Khoảng 13 giờ 20 ngày 30/3/2025 H liên hệ anh Trần Văn A thuê xe mô tô hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 49AA-142.17, thời gian thuê 02 ngày từ 30/3/2025 đến trưa ngày 01/4/2025 với giá thuê 180.000 đồng/ngày, giao xe tại bệnh viện đa khoa tỉnh L. Sau khi thuê được xe, H điều khiển chiếc xe trên tiếp tục đến nhà của anh Nguyễn Quốc T2 tại địa chỉ: D H, Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng cầm chiếc xe trên anh T2 với giá 7.000.000 đồng (anh T2 đưa cho H 1.000.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản 6.000.000 đồng vào số tài khoản của H). Sau khi nhận được số tiền 7.000.000 đồng, H đã tiêu xài hết.
Bị hại là anh Trần Văn A, sinh năm: 1996, nơi cư trú: C N, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng, bị chiếm xe mô tô hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 49AA-142.17.
Bản kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 05/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận chiếc xe này có giá trị còn lại là 19.500.000 đồng (mười chín triệu năm trăm ngàn đồng). Anh Văn A đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Quốc T2 – sinh năm 1992, nơi cư trú: A Y, phường E, tỉnh Đắk Lắk. Anh T2 không yêu cầu H phải trả lại cho anh số tiền 7.000.000 đồng.
Lần thứ tư: Khoảng 08 giờ 00 ngày 01/4/2025 H đến địa chỉ 2 Bis H, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng gặp anh Lê Đình H3 thuê xe mô tô hiệu Honda Vision, màu trắng, biển kiểm soát 49E1-517.53, thời gian thuê từ ngày 01/4/2025 đến ngày 03/4/2025 với giá thuê 250.000 đồng, anh H3 nhận số tiền 250.000 đồng rồi giao xe cho H. Sau khi thuê được xe, H liên hệ với anh Trần Phương Q mạng xã hội Facebook để cầm xe trên. Sau khi trao đổi, H điều khiển xe đến cầu M, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng gặp anh P cầm chiếc xe này với giá 4.000.000 đồng lãi suất 50.000 đồng/2 tuần, nhận tiền bằng hình thức chuyển khoản. Sau khi nhận được số tiền trên H đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Bị hại là anh Lê Đình H3, sinh năm: 1969, nơi cư trú: 2 B, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng bị chiếm đoạt xe mô tô hiệu Honda Vision, màu trắng, biển kiểm soát 49E1-517.53.
Bản kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 05/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận chiếc xe này có giá trị còn lại là 14.500.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm ngàn đồng). Anh H3 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Trần P – sinh năm 1998, nơi cư trú: Số I A, phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Anh P không yêu cầu H phải trả lại cho anh số tiền 4.000.000 đồng.
Lần thứ năm: Khoảng 08 giờ 00 ngày 02/4/2025, H liên lạc với anh Cao Huy N để thuê xe mô tô hiệu Airblade, màu đỏ đen, biển kiểm soát 49F1-518.36 với giá 100.000 đồng/ngày, thời gian từ ngày 02/04/2025 đến ngày 04/04/2025. Anh N giao xe cho H tại địa chỉ B P, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng và thu tiền thuê xe của 02 ngày là 200.000 đồng. Sau khi thuê được xe, H đã sử dụng tài khoản Facebook tên "Vũ Bá" của H liên hệ với người phụ nữ tên H4 có tài khoản Facebook tên “Ny Lucy” (không rõ nhân thân lai lịch) để cầm chiếc xe. H thoả thuận với H4 cầm cố xe này chỉ trong ngày 02/04/2025 với giá 4.500.000 đồng, lãi suất 100.000 đồng/ ngày, nếu trong ngày H không chuộc xe thì H4 được phép thanh lý chiếc xe trên để thu hồi tiền cầm xe, H4 chuyển khoản cho H số tiền 4.500.000 đồng rồi yêu cầu H giao chiếc xe này đến địa chỉ F K, phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng gửi xe này vào một tiệm cắt tóc. Chiều ngày 02/4/2025, H4 liên hệ cầm chiếc xe trên cho anh Vũ Văn M (qua mạng xã hội Facebook) với giá 7.000.000 đồng thanh toán bằng hình thức chuyển khoản. H4 nói với anh M chiếc xe này của H4 mua lại của người khác hiện đã mất giấy tờ và nói anh M đến địa chỉ F K, phường C - Đ sẽ có người giao xe cho anh M. Sau khi về nhà, anh M thấy xe đẹp nên đặt vấn đề mua lại chiếc xe trên với giá 13.000.000 đồng thì H4 đồng ý, sau đó anh M chuyển khoản thêm 6.000.000 đồng cho H4. Đến ngày 04/04/2025, anh M liên hệ với anh Phạm Văn B, sinh năm: 1995 để cầm chiếc xe trên với giá 13.500.000 đồng giao xe tại hầm chui cao tốc Liên Khương, thanh toán bằng hình thức chuyển khoản.
Bị hại là anh Cao Huy N, sinh năm: 2004, nơi cư trú: A T, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng bị chiếm đoạt xe mô tô hiệu Airblade, màu đỏ đen, biển kiểm soát 49F1-518.36.
Bản kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 05/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận chiếc xe này có giá trị còn lại là 27.500.000 đồng (hai mươi bảy triệu năm trăm ngàn đồng). Anh N đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Vũ Văn M, sinh năm: 1994, nơi cư trú: Số A H, phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Anh M không yêu cầu gì về vấn đề bồi thường dân sự.
- - Anh Phạm Văn B, sinh năm: 1995, nơi cư trú: G T, Phường B B, tỉnh Lâm Đồng. Anh B không yêu cầu gì về vấn đề bồi thường dân sự.
Lần thứ sáu: Ngày 02/4/2025, Võ Thị Ngọc H liên hệ anh Phan Văn T1 để thuê xe mô tô hiệu Honda AirBlade, màu xanh đen, biển kiểm soát 59V3-743.26 với giá 150.000 đồng/1 ngày, giao xe tại B P, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi nhận được xe, H tìm kiếm trên mạng xã hội facebook thì biết anh Phạm Văn B nhận cầm xe không giấy tờ nên liên hệ với anh B để cầm cố chiếc xe này. Sau khi thoả thuận, anh B đồng ý cầm chiếc xe này với giá 5.000.000 đồng. Do anh B ở B nên anh B đã nhờ Vũ Văn M nhận xe giúp, anh B chuyển khoản cho anh M số tiền 5.000.000 đồng để anh M chuyển khoản số tiền này cho H khi nhận xe. H mang xe đến cổng trường Cao đẳng S giao xe cho anh M và nhận số tiền chuyển khoản 5.000.000 đồng. Đến ngày 03/4/2025, anh M giao chiếc xe này cho anh B tại vòng xoay chợ Đ1 rồi anh B điều khiển xe về B.
Bị hại là anh Phan Văn T1, sinh năm: 1998, nơi cư trú: D X, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng bị chiếm đoạt xe mô tô hiệu Honda AirBlade, màu xanh đen, biển kiểm soát 59V3-743.26. Bản kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 05/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận chiếc xe này có giá trị còn lại là 28.000.000 đồng (hai mươi tám đồng). Anh T1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Vũ Văn M, sinh năm: 1994, nơi cư trú: Số I A, phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Anh M không yêu cầu gì về vấn đề bồi thường dân sự.
- - Anh Phạm Văn B, sinh năm: 1995, nơi cư trú: G T, Phường B B, tỉnh Lâm Đồng. Anh B không yêu cầu gì về vấn đề bồi thường dân sự.
Tổng giá trị tài sản Võ Thị Ngọc H đã chiếm đoạt ở 06 lần là: 112.500.000đ (Một trăm mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Vật chứng thu giữ:
- - Điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu vàng, có gắn sim số 0354424746, đã qua sử dụng của Võ Thị Ngọc H;
- - Xe mô tô hiệu SYM Attila, màu nâu, biển số: 49B1-188.55 thu giữ từ Công an phường P1, Tp Đ, tỉnh Lâm Đồng;
- - Xe mô tô hiệu Honda Vision, màu đen, biển kiểm soát 49K1-769.35
- - Xe mô tô hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 49AA-142.17
- - Xe mô tô hiệu Honda Vision, màu trắng, biển kiểm soát 49E1-517.53
- - Xe mô tô hiệu Airblade, màu đỏ đen, biển kiểm soát 49F1-518.36
- - Xe mô tô hiệu Air Blade, màu xanh đen BKS: 59V3-743.26
Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKSKV1-LĐ ngày 03/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng truy tố bị cáo Võ Thị Ngọc H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo không khiếu nại bản cáo trạng và khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- - Tuyên bố bị cáo Võ Thị Ngọc H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- - Áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 174; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Võ Thị Ngọc H mức hình phạt từ 02 năm tù đến 03 năm tù.
- - Áp dụng Khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự: Tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù tại bản án số 87/2025/HS-ST ngày 28/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, buộc bị cáo Võ Thị Ngọc H phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án từ 04 năm tù đến 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2025.
- - Về trách nhiệm dân sự: không.
- - Về áp dụng biện pháp tư pháp: đề nghị buộc bị cáo phải nộp số tiền thu lợi bất chính 29.500.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu vàng, có gắn sim số 0354424746, đã qua sử dụng của Võ Thị Ngọc H.
- - Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, ông Vũ Văn M không có ý kiến tranh luận.
Toàn bộ những người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt tại phiên tòa. Hồ sơ vụ án thể hiện không ai có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.
Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo ăn năn hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến thắc mắc hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã được tiến hành đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết định khung hình phạt:
Do không có việc làm ổn định và cần tiền tiêu xài nên Võ Thị Ngọc H đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng hình thức tìm thuê xe mô tô rồi đem đi cầm cố lấy tiền. Trong khoảng thời gian từ ngày 11/02/2025 đến ngày 02/4/2025, bị cáo Võ Thị Ngọc H đã 06 lần thực hiện việc thuê 06 xe mô tô của các bị hại Lê Thị V, Trần Thị H2 Trần Văn A Lê Đình H3 Cao Huy N và Phan Văn T1 để cầm cố được 29.500.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết, tổng giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt là 112.500.000đ (Một trăm mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Đối chiếu lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo và lời khai của những người bị hại, người có liên quan trong quá trình điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: hành vi của bị cáo Võ Thị Ngọc H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với những người nhận cầm cố xe mô tô do Võ Thị Ngọc H mang đến gồm: Nguyễn Quốc T2, Trần P, Vũ Văn M và Phạm Văn B. Quá trình điều tra xác định những người này không biết đây là tài sản do H phạm tội mà có nên không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người này về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Đối với người phụ nữ tên H4 (tài khoản Facebook tên Ny L) là người nhận cầm cố xe mô tô hiệu Airblade, màu đỏ đen, biển kiểm soát 49F1-518.36 từ Huyền. Do H thỏa thuận nếu H không chuộc chiếc xe này thì H4 có quyền thanh lý xe, sau đó H4 đã bán chiếc xe này cho anh Vũ Văn M rồi M cầm cố chiếc xe này cho anh Phạm Văn B. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được H4 và chưa làm việc được với H4. Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh, khi nào xác định rõ sẽ xử lý sau.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản 06 lần, do đó áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo được những người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm trái pháp luật đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Xét mức hình phạt từ 02 năm tù đến 03 năm tù mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là chưa tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đồng thời xét bị cáo thực hiện tội phạm trong khi đã bị khởi tố trong một vụ án khác nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt đối với bị cáo cao hơn mức đại điện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được cơ quan điều tra thu giữ và trả lại cho những người bị hại theo đúng quy định của pháp luật. Toàn bộ những người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án cùng không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra để giải quyết.
[5] Về áp dụng biện pháp tư pháp: Đối với số tiền bị cáo thu lợi bất chính trong việc thực hiện hành vi phạm tội mà có, cần buộc bị cáo Võ Thị Ngọc H phải nộp số tiền 29.500.000đ (hai mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng) để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: bị cáo Võ Thị Ngọc H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 174; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Võ Thị Ngọc H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng Khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự: Tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù tại bản án số 87/2025/HS-ST ngày 28/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, buộc bị cáo Võ Thị Ngọc H phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2025.
[2] Áp dụng biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Võ Thị Ngọc H phải nộp số tiền thu lợi bất chính là 29.500.000đ (hai mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng) để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[3] Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu vàng, có gắn sim số 0354424746.
(Vật chứng có đặc điểm cụ thể như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Lâm Đồng).
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về việc áp dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Võ Thị Ngọc H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và ông Vũ Văn M có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Những người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Chu Văn Bình |
Bản án số 99/2025/HS-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LÂM ĐỒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (tội phạm hình sự)
- Số bản án: 99/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Tội phạm hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ ngày 11/02/2025 đến ngày 02/4/2025, bị cáo Võ Thị Ngọc Huyền đã 06 lần thực hiện việc thuê 06 xe mô tô của các bị hại Lê Thị Vân, Trần Thị Hà, Trần Văn Anh, Lê Đình Hiệp, Cao Huy Nhật và Phan Văn Tính để cầm cố được 29.500.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết, tổng giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt là 112.500.000đ (Một trăm mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).
