Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG

Bản án số: 99/2025/HS-ST

Ngày 23-12-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Nga

Bà Trần Thị Trúc Hoa

- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Việt Anh, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5- Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 -Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trần Hùng Vũ, Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 12 năm 2025 Toà án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2025/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Đinh Mạnh C, sinh ngày 27 tháng 7 năm 1993 tại Hải Phòng. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ C cụm E phường Đ, quận N (nay là phường G), thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số A K, phường V, quận L (nay là phường A), thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Như D và bà Nguyễn Thị N; có vợ Nguyễn Thị T và 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ ngày 04/02/2025, tạm giam ngày 07/02/2025; có mặt.
  2. Nguyễn Thị T, sinh ngày 09 tháng 3 năm 1989 tại Thái Nguyên. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm N, xã X, huyện P (nay là xã P), tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Dương Thị V; có chồng thứ nhất là Nguyễn Công T1 (đã ly hôn - tại phiên toà khai); chồng thứ hai là Đinh Mạnh C và 03 con (02 con với T1, 01 con với C); tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 05/6/2025; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo C, bị cáo T: Bà Bùi Thị Xuân T2 và bà Lê Thị Thúy H, Luật sư Công ty L thuộc đoàn luật sư thành phố H, đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 03/02/2025 Quàng Thị P, sinh ngày 03/5/2011; nơi thường trú: Bản Na Hay, xã T, huyện Đ, (nay là Bản Na H1, xã T), tỉnh Điện Biên và Lò Thị M1, sinh ngày 10/12/2010; nơi thường trú: Bản Na Hát, xã M, huyện Đ (nay là Bản N, xã M), tỉnh Điện Biên rủ nhau xuống Hải Phòng chơi. P và M1 đi xe ô tô từ tỉnh Điện Biên về bến xe V, quận L (nay là phường A), thành phố Hải Phòng thì M1 gọi điện cho Nguyễn Thị T đến đón và trả tiền xe ô tô (do M1 quen biết T từ trước và đã từng ở nhà T). Tbảo chồng là Đinh Mạnh Cđến bến xe Vđón M1,Pvà trả tiền xe. Cđiều khiển xe mô tô Honda AirBlade màu đỏ đen, biển số 15B3-459.95 đến bến xe V trả tiền xe hết 4.500.000 đồng rồi chở M1 và P về nhà ở số A Khúc T, phường V, quận L (nay là số A Khúc T, phường A), thành phố Hải Phòng. Tại đây, C thỏa thuận với M1 và P về công việc bán dâm cho khách sẽ được hưởng 200.000 đồng/1 lượt bán dâm và được bao ăn ở, sinh hoạt, M1 và P phải trả số tiền C đã trả tiền xe (mỗi người 2.250.000 đồng), P và M1 đồng ý. Ngoài M1 và P, tại nhà C còn Tao Thị X, sinh năm 2003; nơi thường trú: Bản P, xã B, huyện T (nay là Bản P, xã B), tỉnh Lai Châu cũng làm gái bán dâm đang ăn ở, sinh hoạt tại nhà C.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/02/2025, T sử dụng điện thoại đăng nhập tài khoản Zalo mang tên “Quỳnh Anh” được lập từ số điện thoại 0915.530.325 tìm được 01 khách có nhu cầu mua dâm với P, giá 600.000 đồng/1 lượt tại phòng 201 nhà nghỉ P1 ở số G T, phường V, quận L (nay là phường A), thành phố Hải Phòng. Sau đó C chở P đến nhà nghỉ P1 rồi ngồi trên xe mô tô đợi, còn Plên phòng 201 để bán dâm. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Pbán dâm xong thì C chở về nhà C. P và C cùng đi vào phòng ngủ tầng 01, P đưa cho T 700.000 đồng tiền vừa bán dâm. Sau đó C nói trừ nợ số tiền 200.000 đồng và thông báo số tiền Phương còn nợ là 2.050.000 đồng.

Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 04/02/2025, C sử dụng tài khoản Facebook mang tên “Thúy Kiều” tìm được 01 khách mua dâm với P tại phòng 301 nhà nghỉ H2 ở ngõ E T, phường V, quận L (nay là phường A), thành phố Hải Phòng với giá 600.000 đồng/1 lượt. C sử dụng xe mô tô Honda AirBlade màu đỏ đen, biển số 15B3-459.95 chở P đi bán dâm. Trong lúc chờ P, C tiếp tục sử dụng tài khoản Facebook “Thúy Kiều” tìm khách có nhu cầu mua dâm với M1 và X. Sau khi tìm được khách và thỏa thuận về địa điểm và số tiền bán dâm, C điều khiển xe mô tô từ nhà nghỉ H2 về nhà chở M1 đến phòng 304 nhà nghỉ H2 ở số A T, phường V, quận L (nay là phường A), thành phố Hải Phòng bán dâm cho khách với giá 600.000 đồng/1 lượt rồi quay về nhà chở X đến phòng 302 nhà nghỉ H2 bán dâm cho khách với giá 500.000 đồng/1 lượt. Trong khi chờ Xanh, M1, P bán dâm, C tiếp tục tìm khách có nhu cầu mua dâm, sau khi tìm được khách, Cđiều khiển xe mô tô quay lại nhà nghỉ H2đón P. Tại đâyPđưa cho C600.000 đồng. C chở P đến phòng 201 nhà nghỉ P1 tiếp tục bán dâm cho khách với giá 700.000 đồng/1 lượt. Sau đó, C đến nhà nghỉ Quỳnh A đón M1 và X chở về nhà rồi quay lại nhà nghỉ Phương P đón P. Lúc này T gọi điện cho C báo có khách mua dâm với P, giá 2.000.000 đồng tại phòng 301 nhà nghỉ P1. Sau khi bán dâm tại phòng 201 nhà nghỉ P1 xong, P xuống cửa nhà nghỉ đưa cho C 700.000 đồng, C nhận tiền rồi bảo P lên phòng 301 nhà nghỉ Phương P tiếp tục bán dâm. Trong lúc chờ P bán dâm, C sử dụng tài khoản Facebook “Thúy Kiều” liên hệ với tài khoản Facebook “Ngoc Duy” của anh Nguyễn Duy N1, sinh năm 1985; trú tại: Tổ A B, K, Hải Phòng thống nhất việc mua dâm với P, giá 500.000 đồng/1 lượt tại phòng 303 nhà nghỉ H2. Cđợi ở khu vực cửa nhà nghỉ P1 được một lát thì P đi xuống thông báo không bán dâm được (vì khách là người Trung Quốc, không hiểu khách nói gì). Cđiều khiển xe mô tô chở Pđến nhà nghỉ H2bán dâm cho anh N1. Sau đó C đi về nhà đưa cho T số tiền 1.300.000 đồng là tiền Phương bán dâm 02 lần trong ngày 04/02/2025 (tại nhà nghỉ H2 được 600.000 đồng, tại nhà nghỉ P1 được 700.000 đồng).

Tại nhà nghỉ H2, P không lên phòng 303 để bán dâm cho anh N1 mà gọi điện báo Công an phường V (nay là Công an phường A), Cơ quan Công an đến nhà nghỉ H2 yêu cầu P và anh N1 về trụ sở làm việc.

Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Đinh Mạnh Cvà Nguyễn Thị Ttại số A Khúc T, phường V, quận L (nay là phường A), thành phố Hải Phòng thu giữ 61 bao cao su nhãn hiệu “Condom Hualei” chưa sử dụng; thu giữ của P 02 bao cao su nhãn hiệu “Condom Hualei” chưa sử dụng; thu giữ của M1 02 bao cao su nhãn hiệu "Condom Hualei” chưa sử dụng; thu giữ của bị can Đinh Mạnh C 01 xe mô tô Honda AirBlade màu đỏ đen, biển số 15B3-459.95; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12; 01 điện thoại di động Masstel. Thu giữ của bị can Nguyễn Thị T số tiền 3.930.000 đồng.

Đinh Mạnh Cvà Nguyễn Thị Tkhai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên. Ngoài ra C và T khai: C và T đều liên lạc với khách qua tin nhắn Zalo hoặc Messenger và không biết lai lịch, địa chỉ của khách mua dâm. Tuyền môi giới cho khách mua dâm với P 02 lần: 01 lần vào ngày 03/02/2025 và 01 lần vào ngày 04/02/2025 nhưng không thành công. Tuyền môi giới cho khách mua dâm với M1 01 lần vào ngày 04/02/2025 nhưng không thành công. Tuyền có nhận của P 700.000 đồng tiền bán dâm và có nhận của C 1.300.000 đồng sáng ngày 04/02/2025 để đi khám thai (do T đang thụ thai qua phương pháp IVF). T cũng thừa nhận đã nhận 500.000đ từ X và 600.000đ từ Minh sáng ngày 04/02/2025.

Quàng Thị P, Lò Thị M1, Tao Thị X khai phù hợp với nội dung trên. P, M1, X tự nguyện ở nhà của C và T để đi bán dâm, mỗi lần bán dâm được hưởng 200.000 đồng. C và T là người liên lạc với khách. P, M1, X đi bán dâm theo sự sắp đặt của C và T nên không biết lai lịch, địa chỉ của khách mua dâm. Ngày 04/02/2025 M1 và X không nhớ là đã đưa tiền bán dâm cho T hay chưa.

Nguyễn Duy N1 khai: N1 có nhu cầu mua dâm nên đã lên mạng xã hội Facebook tìm thì thấy tài khoản tên “Thúy Kiều” có đăng bài về việc bán dâm. N1 nhắn tin qua ứng dụng Messenger với tài khoản “Thúy Kiều” và thỏa thuận việc mua dâm với giá 500.000 đồng/1 lượt. N1 chủ động đến nhà nghỉ H2 sau đó nhắn địa chỉ nhà nghỉ và số phòng cho tài khoản “Thúy Kiều”. Một lúc sau N1 thấy có một nữ giới (sau này biết tên là P) đứng trước cửa phòng 303 gọi điện thoại. Sau đó Cơ quan Công an đến đưa N1 và P về trụ sở làm việc.

Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKSKV5 ngày 10 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Hải Phòng truy tố Đinh Mạnh Cvà Nguyễn Thị Tvề tội “Môi giới mại dâm” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 328 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai như trên ngoài ra C khai hàng ngày làm xe ôm (G), thợ phụ lắp điều hoà, T khai bán hàng online trên mạng và không lấy việc môi giới mại dâm là nguồn sống chính.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Đinh Mạnh Cvà Nguyễn Thị Tđồng phạm tội “Môi giới mại dâm” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, 17, 58 Bộ luật Hình sựxử phạt bị cáo Đinh Mạnh Cmức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”.

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 328; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Môi giới mại dâm”.

Do các bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng; bị cáo T đang nuôi con nhỏ, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử :

  • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe moto Honda Airblade màu đỏ đen, biển kiếm soát: 15B3-459.95 đã qua sử dụng có 01 gương trái, không có chìa khoá, không có giấy tờ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masttel (thu giữ của bị cáo C) và 3.100.000đ (thu giữ của bị cáo T).
  • Tịch thu tiêu huỷ 65 bao cao su nhãn hiệu Condom Hualei.
  • Trả lại bị cáo T số tiền 830.000đ.

Đối với Nguyễn Duy N1 là người mua dâm với Quàng Thị P nhưng chưa thực hiện việc quan hệ tình dục với P nên Cơ quan điều tra không xử lý; do vậy không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Đối với những người mua dâm khác, hiện không xác định được lai lịch địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ; do vậy không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho các bị cáo trình bày lời bào chữa: Bản Cáo trạng số 05/CT-VKSKV5 ngày 10 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Hải Phòng truy tố Đinh Mạnh Cvà Nguyễn Thị Tvề tội “Môi giới mại dâm” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 328 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật

nên không có ý kiến hay tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã có ý thức ngăn chặn và làm giảm bớt tác hại của hành vi phạm tội, thể hiện qua việc các bị cáo đã yêu cầu M1, X, P phải sử dụng bao cao su khi đi bán dâm việc làm này đã không để lây bệnh xã hội nếu có; việc này phù hợp với tình tiết giảm nhẹ theo điểm a khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có 03 con đều dưới 15 tuổi, đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 9 Điều 3 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn. Bị cáo T đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính của các bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết này cho cả hai bị cáo. Bị cáo T khi thực hiện hành vi phạm tội đang có thai đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cái đây cũng là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho hai bị cáo được hưởng tình tình tiết này.

Về tình tiết tăng năng do các bị cáo đã phải chịu tình tiết định khung nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo theo hướng dẫn tại Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.

Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt đối với các bị cáo dưới mức thấp của Kiểm sát viên đề nghị.

Do các bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định lại có 03 con nhỏ, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

- Về hành vi “Môi giới mại dâm”:

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ và vật chứng thu giữ cho thấy: Ngày 03/02/2025 và ngày 04/02/2025, Đinh Mạnh Cvà Nguyễn Thị Tđã thực hiện hành vi môi giới cho Quàng Thị P (13 tuổi, 09 tháng, 01 ngày), Lò Thị M1 (14 tuổi, 02 tháng, 25 ngày), Tao Thị X bán dâm tại các nhà nghỉ trên địa bàn phường V, quận L (nay là phường A), thành phố Hải Phòng thu lời bất chính số tiền 3.100.000 đồng (ngày 03/02/2025 thu của P 700.000 đồng; ngày 04/02/2025 thu của P 1.300.000 đồng, thu của X 500.000 đồng và thu của M1 600.000đ). Nên có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Đinh Mạnh Cvà Nguyễn Thị Tđồng phạm tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tạiĐiều 328Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung:

[3] Các bị cáo đã môi giới cho Quàng Thị P và Lò Thị M1 là người chưa đủ 16 tuổi bán dâm; do vậy các bị cáo phải chịu tình tiết định khung được quy định tại điểm a (đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi) khoản 3 Điều 328 Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến đạo đức, thuần phong, mỹ tục, đến đời sống văn hóa xã hội và trật tự trị an xã hội.

[5] Xét tính chất của vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm mang tính chất giản đơn, không có sự phân công nhiệm vụ cụ thể của từng bị cáo, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

- Về vai trò của các bị cáo: Các bị cáo đều trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nhưng C thực hiện hành vi phạm tội tích cực hơn T, nên vai trò của bị cáo cao hơn bị cáo T.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[6] Trong hai ngày 03, 04/02/2025 các bị cáo đã nhiều lần thực hiện việc môi giới cho M1, P và X bán dâm; do vậy các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "phạm tội 2 lần trở lên" theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng tình tiết này theo Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao là chưa có cơ sở để chấp nhận.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[7] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bị cáo T phạm tội khi đang có thai (bị cáo sinh con ngày 15/9/2025); bị cáo T có ông được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất và Bằng khen của Chủ tịch tỉnh Thái Nguyên, bị cáo C có ông được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì; bị cáo cũng đã giao nộp lại số tiền liên quan đến hànhvi phạm tội. Kiểm sát viên tham gia phiên toà và người bào chữa cho các bị cáo đều có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s (cả hai bị cáo), điểm n (bị cáo T) khoản 1 và khoản 2 (cả hai bị cáo) Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình là có cở sở chấp nhận.

Việc người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm a khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo do khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã có ý thức ngăn chặn và làm giảm bớt tác hại của hành vi phạm tội; căn cứ vào tội danh các bị cáo bị truy tố và các quy định pháp luật; qua tranh luận, đối đấp Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến đề nghị này của những người bào chữa cho các bị cáo là chưa có căn cứ để chấp nhận.

- Về nhân thân bị cáo C, bị cáo T: Đều chưa có tiền án, tiền sự.

- Về hình phạt áp dụng:

[8] Từ những phân tích trên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo, phòng ngừa tội phạm chung.

- Về hình phạt bổ sung:

[9] Các bị cáo phạm tội vì mục đích vụ lợi, do vậy ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo; tuy nhiên các bị cáo đều không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập; bị cáo T đang nuôi con nhỏ; nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp với thực tế, phù hợp với ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên toà và của những người bào chữa của các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

[10] Đối với 01 xe moto Honda Airblade màu đỏ đen, biển kiếm soát: 15B3- 459.95 đã qua sử dụng có 01 gương trái, không có chìa khoá, không có giấy tờ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masttel thu giữ của bị cáo C. Hội đồng xét xử xét C đã dùng xe moto, điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 và điện thoại di động nhãn hiệu Masttel làm công cụ, phương tiện để phạm tội; nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe moto Honda Airblade màu đỏ đen, biển kiếm soát: 15B3-459.95 đã qua sử dụng có 01 gương trái, không có chìa khoá, không có giấy tờ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 đã qua sử dụng không kiểm tra được tình trạng máy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masttel đã qua sử dụng không kiểm tra được tình trạng máy.

[11] Đối với số tiền 3.930.000 đồng bị cáo T giao nộp, xét thấy trong đó có 3.100.000 đồng là tiền do phạm tội mà có; nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 3.100.000 đồng; trả lại bị cáo T 830.000 đồng nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần dân sự.

[12] Đối với 65 bao cao su nhãn hiệu Condom Hualei thu giữ khi khám xét nơi ở của các bị cáo và khi bắt giữ các đối tượng; xét đây là vật liên quan đến hành vi phạm tội; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.

- Về án phí:

[13] Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

- Về quyền kháng cáo:

[14] Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 328, điểm s (cả hai bị cáo), điểm n (bị cáo T) khoản 1 và khoản 2 (cả hai bị cáo) Điều 51, điểm g khoản 1 (cả hai bị cáo) Điều 52, Điều 38, 17, 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đinh Mạnh Cvà bị cáo Nguyễn Thị Tđồng phạm tội “Môi giới mại dâm”;

Xử phạt: Đinh Mạnh C08 (tám) nămtù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 02 năm 2025.

Xử phạt: Nguyễn Thị T07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe moto Honda Airblade màu đỏ đen, biển kiếm soát: 15B3-459.95 đã qua sử dụng có 01 gương trái, không có chìa khoá, không có giấy tờ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 đã qua sử dụng không kiểm tra được tình trạng máy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masttel đã qua sử dụng không kiểm tra được tình trạng máy thu giữ của bị cáo C và 3.100.000đ (ba triệu, một trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo T.
  • Tịch thu tiêu hủy: 65 bao cao su nhãn hiệu Condom Hualei.
  • Trả lại bị cáo T số tiền 830.000đ (tám trăm, ba mươi nghìn đồng) nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần dân sự.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14 tháng 10 năm 2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố H với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5-Hải Phòng và Uỷ nhiệm chi số 20 ngày 15 tháng 10 năm 2025 giữa Phòng C1 Công an thành phố H với Kho bạc Nhà nước khu vực III H).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6; Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo C, bị cáo T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND Khu vực 5-Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Công an Tp. Hải Phòng + PV 06 + PC10;
  • - Trại tạm giam Công an Hải Phòng;
  • - Các Bị cáo + THAHS;
  • - Phòng THADS khu vực 5-Hải Phòng;
  • - Công an + UBND phường Gia Viên, Tp. Hải Phòng;
  • - Công an + UBND phường An Biên, Tp. Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Bá Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2025/HS-ST ngày 23/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG về môi giới mại dâm

  • Số bản án: 99/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Môi giới mại dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Mạnh C, Nguyễn Thị T - Môi giới mại dâm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger