|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 99/2025/HNGĐ-ST Ngày 29/12/2025 V/v “ Tranh chấp ly hôn, con chung". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Vũ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Rô Be
Bà Phạm Thị Lệ Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Ni, thư ký Tòa án nhân dân Khu Vực 3, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 3, tỉnh An Giang: Không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2025/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025 về việc “ Tranh chấp ly hôn, con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh năm: 2003 (Có mặt)
Địa chỉ: ấp H, xã T, tỉnh An Giang.
Bị đơn : Anh Ngô Hùng Đ, sinh năm: 1999 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo đơn khởi kiện ngày 26/9/2025 và các lời khai có trong hồ sơ vụ án chị Nguyễn Ngọc Như Ý trình bày:
Chị Nguyễn Ngọc Như Ý và anh Ngô Hùng Đ chung sống với nhau vào năm 2020, không có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang (Nay là xã T, tỉnh An Giang) vào ngày 11/10/2022, số 99/2022. Trước khi chung sống vợ chồng có tìm hiểu nhau trước, mới tiến tới hôn nhân, hôn nhân tự nguyện, không bị cưỡng ép.
Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, có lối sống không phù hợp, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng thêm trầm trong không thể hàn gắn.
Nay, chị Như Ý xét thấy tình cảm vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2025 đến nay.
- Về con chung vợ chồng có 02 con chung tên Ngô Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 16/7/2020 và Ngô Nguyễn Lan A1, sinh ngày 27/8/2021 hiện các con đang ở với chị Như Ý.
- Về tài sản: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về phần nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa chị Như Ý vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Như Ý yêu cầu ly hôn với anh Ngô Hùng Đ.
- Về con chung: Chị Như Ý yêu cầu được nuôi 02 con chung tên Ngô Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 16/7/2020 và Ngô Nguyễn Lan A1, sinh ngày 27/8/2021 chị Như Ý không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về phần nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt, hợp lệ giấy triệu tập và các thủ tục tố tụng cho anh Ngô Hùng Đ tham gia phiên họp kiểm tra việc, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng anh Ngô Hùng Đ đều không có mặt theo triệu tập của Tòa án. Nhưng Anh Đ có gửi bản tự khai cho Tòa án, anh Đ thống nhất với lời trình bày của chị Như Ý về năm vợ chồng chung sống, có đăng ký kết hôn và có 02 con chung, quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung và nợ là đúng.
Tại bản tự khai ông Đ cho rằng quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn nguyện vọng của anh là muốn đoàn tụ để vợ chồng tiếp tục nuôi dạy con chung. Nếu chị Như Ý cương quyết ly hôn thì Tòa án cứ căn cứ theo quy định pháp luật anh không có ý kiến gì nữa. Anh cũng thống nhất giao 02 con cho chị Ý nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung, không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận đi làm ăn xa nên anh Đ làm đơn xin vắng mặt tại phiên hòa giải và tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn, nuôi con chung bị đơn anh Ngô Hùng Đ cư trú tại ấp T, xã T, tỉnh An Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu Vực 3, tỉnh An Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án anh Ngô Hùng Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Ngô Hùng Đ.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Ngọc Như Ý và anh Ngô Hùng Đ được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có có đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang (Nay là xã T, tỉnh An Giang) vào ngày 11/10/2022, số 99/2022 là phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
[3.1] Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị Nguyễn Ngọc Như Ý Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi kết hôn chị Như Ý và anh Đ chung sống hạnh phúc, đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, có lối sống không phù hợp, từ đó làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng thêm trầm trọng, mặc dù chị Như Ý và anh Đ đã nhiều lần nếu kéo cuộc sống hôn nhân để quay về đoàn tụ và nuôi dạy con chung nhưng không mang lại kết quả. Chị Như Ý và anh Đ đã ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay. Trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai, không chăm sóc, giúp đỡ nhau điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân không đạt được mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hiện được tình nghiã vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; .... Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau.
[3.2] Đối với anh Đ Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thủ tục tố tụng cho anh Đ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để Tòa án động viên anh Đ và chị Như Ý quay về đoàn tụ tiếp tục cuộc sống hôn nhân và nuôi dạy con chung nhưng anh Đ đều vắng mặt không có lý do, nhưng anh Đ có bản tự khai gửi cho Tòa án với ý kiến anh muốn đoàn tụ với chị Như Y.
Trường hợp chị Như Ý cương quyết ly hôn thì Tòa án cứ căn cứ theo quy định pháp luật anh không có ý kiến gì thêm. Anh cũng thống nhất giao 02 con cho chị Ý nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung, không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận đi làm ăn xa nên anh Đ làm đơn xin vắng mặt tại phiên hòa giải và tại phiên tòa.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Ngọc Như Ý.
[4] Về con chung: Chị Nguyễn Ngọc Như Ý và anh Đ xác nhận vợ chồng có 02 con chung tên Ngô Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 16/7/2020 và Ngô Nguyễn Lan A1, sinh ngày 27/8/2021 hiện nay 02 con đang ở với chị Như Ý, chị Như Ý yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Theo bản tự khai gửi cho Tòa án thì anh Đ thống nhất giao 02 con chung cho chị Như Ý tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.
Từ những nội dung nêu trên Hội đồng xét xử chấp yêu cầu xin được nuôi con của chị Nguyễn Ngọc Như Ý. Tiếp tục giao 02 con chung tên Ngô Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 16/7/2020 và Ngô Nguyễn Lan A1, sinh ngày 27/8/2021 cho chị Nguyễn Ngọc Như Ý trực tiếp, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời anh Đ không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Ngọc Như Ý phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm.
[7] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 4 Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 56,81,82,83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Như Ý.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Như Ý được ly hôn với anh Nguyễn Hùng Đ1.
- Về con chung: Tiếp tục giao 02 con chung tên Ngô Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 16/7/2020 và Ngô Nguyễn Lan A1, sinh ngày 27/8/2021 cho chị Nguyễn Ngọc Như Ý trực tiếp, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng. Anh Đ1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Sau khi ly hôn anh Đ1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời anh Đ1 không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Ngọc Như Ý phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số:0003848 ngày 10/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
- Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Ngọc Như Ý có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Hùng Đ1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Danh Vũ |
Bản án số 99/2025/HNGĐ-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 99/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Ý yêu cầu ly hôn với anh Đức
