TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 98/2025/HS-ST Ngày 31 - 12 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Thúy .
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đường Ngọc Đại và bà Nguyễn Thị Kim Luyến;
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Nhật Mai, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8- Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8- Phú Thọ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2025/TLST - HS ngày 01 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đăng L; Giới tính: Nam; sinh năm 2003; địa chỉ: TDP K, phường P, tỉnh Phú Thọ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Đăng D và con bà Đặng Thị O; vợ con: chưa có; tiền án: Không;
Tiền sự: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 114/HPHC ngày 19/9/2023 của UBND phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là phường P, tỉnh Phú Thọ), xử phạt Nguyễn Đăng L về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền là 2.500.000 đồng, ngày 20/9/2023 L đã nộp phạt.
Bị cáo Nguyễn Đăng L bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương, có mặt.
* Bị hại: Công ty cổ phần Đ;
Địa chỉ: Phố K, phường T, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Xuân T- Giám đốc;
Người được ủy quyền tham gia tố tụng:
Ông Nguyễn Tiến C, sinh năm 1973;
Chức vụ: Là Cung trưởng cung cầu V;
Địa chỉ: Thôn N, xã B, tỉnh Phú Thọ; có mặt;
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Đăng N, sinh năm 2003;
Địa chỉ: TDP K, phường P, tỉnh Phú Thọ; có mặt;
- Chị Nguyễn Thu X, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, tỉnh Phú Thọ;
Có đơn xin xét xử vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đăng L và Nguyễn Đăng N là bạn của nhau cùng sinh sống tại TDP K, phường P, tỉnh Phú Thọ. Ngày 18/5/2025, L và N rủ nhau đi trộm cắp tài sản là các thanh sắt và ốc ở đường tàu thuộc địa phận TDP Đ, phường P, tỉnh Phú Thọ. Khi đi N và L mang theo 01 mỏ lết và 01 bao tải xác rắn. Trong tháng 5/2025 L và N đã thực hiện nhiều lần trộm cắp tài sản. Cụ thể:
Lần 1: Khoảng 12 giờ 00, ngày 18/05/2024, L điều khiển xe môtô BKS: 88H1- 365.92 chở N ngồi sau đi đến đầu cầu Đ thuộc TDP Đ, phường P, tỉnh Phú Thọ. Tại đây, L và N thay nhau cảnh giới và dùng mỏ lết để tháo trộm các ốc hãm ở đầu các bu lông móc kết nối các tà vẹt với khung đường sắt. Cả hai lấy trộm được 15 bộ bu lông móc rồi cho vào 01 bao tải xác rắn; sau đó, L điều khiển xe mô tô chở N đi đến cửa hàng thu mua sắt vụn của chị Nguyễn Thu X; trú tại TDP T, phường P, tỉnh Phú Thọ để cân, bán. Tại đây, N đứng chờ ở ngoài, còn L đem bao tải xác sắn đựng các bộ Bu lông vừa trộm cắp được trực tiếp vào gặp chị X để bán số tài sản trên. Khi gặp chị X, L nói dối với chị X gia đình L có sắt vụn của nhà muốn cân, bán. Chị Nguyễn Thu X kiểm tra thấy đều là các thanh sắt hoen rỉ có kích thước khác nhau nên tin tưởng đúng là sắt vụn, không nghi ngờ gì. Chị Nguyễn Thu X đồng ý mua rồi bảo L đặt túi xác rắn đựng các bộ Bu lông lên cân, tại cửa hàng, L cân bán được 26,3kg với giá thỏa thuận 8.000 đồng/1kg, tổng bán được 210.000 đồng (Hai trăm mười nghìn đồng).
Lần 2: Khoảng 19 giờ 30 ngày 22/05/2024, L tiếp tục điều khiển xe môtô BKS: 88H1 - 365.92 chở N đến đoạn đầu cầu Đ thuộc TDP Đ, phường P rồi cùng nhau tháo, trộm cắp được 15 bộ Bu lông móc sau đó để vào bên trong 01 bao tải xác rắn, sau đó L chở N đến cửa hàng thu mua sắt vụn của chị X để cân, bán được 25,2kg, bán với giá 8.000 đồng/1kg, tổng bán được 202.000 đồng (Hai trăm linh hai nghìn đồng).
Lần thứ 03: Khoảng 19 giờ 30 ngày 23/05/2024, L tiếp tục điều khiển xe mô tô BKS: 88H1 - 365.92 chở N đến khu vực đầu cầu Đ thuộc TDP Đ, phường P rồi cùng nhau tháo, trộm cắp được 20 bộ bu lông móc sau đó để toàn bộ vào bên trong 01 bao tải xác rắn, sau đó L mang về cất giấu tại nhà. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 24/5/2024, L điều khiển xe mô tô BKS: 88H1 - 365.92 chở theo bao tải chứa các bộ bu lông móc trộm cắp được trên đến cửa hàng thu mua sắt vụn của chị X cân được 34,3kg, bán với giá 8.000 đồng/1kg, tổng bán được 274.000 đồng (Hai trăm bảy mươi tư nghìn đồng).
Lần thứ 04: Khoảng 19 giờ 00 ngày 24/05/2024, L tiếp tục chở N bằng chiếc xe môtô của L nêu trên đi đến đoạn đầu cầu Đ thuộc TDP Đ, phường P rồi cùng nhau tháo, trộm cắp được 11 bộ bu lông móc. Sau đó, L và N để vào bên trong 01 bao tải xác rắn mang theo từ nhà), cả hai mang đến cửa hàng thu mua sắt vụn của chị X để cân tại của hàng được 18,5kg, bán với giá 8.000 đồng/1kg, tổng bán được 148.000 đồng (Một trăm bốn mươi tám nghìn đồng).
Lần thứ 05: Khoảng 19 giờ 00 ngày 25/05/2024, L tiếp tục chở N đi đến địa điểm trên rồi cùng nhau tháo, trộm cắp được 10 bộ bu lông móc để vào bên trong 01 bao tải xác rắn. Sau đó, cả hai tiếp tục mang đến cửa hàng thu mua sắt vụn của chị X cân bán được 16kg, bán với giá 8.000 đồng/1kg, tổng bán được 128.000 đồng (Một trăm hai mươi tám nghìn đồng).
Toàn bộ số tiền bán được 962.000đồng của 05 các lần trộm cắp tài sản nêu trên, L và N cùng nhau tiêu sài cá nhân hết.
Ngoài ra, khoảng 20 giờ 00 ngày 26/5/2024, L một mình điều khiển xe mô tô BKS: 88H1 - 365.92 đến đầu cầu Đ thuộc TDP Đ, phường P để một mình tháo, trộm cắp các bộ bu lông móc đường sắt. Sau khi L tháo được 10 bộ bu lông móc, thì thấy có lực lượng tuần tra đường sắt đi đến nên L bỏ lại bao tải chứa các bộ bu lông móc vừa tháo trộm được cùng 01 mỏ lết rồi nhanh chóng lên xe mô tô của L bỏ chạy. Sau đó, Công ty Đ đã thu giữ tại hiện trường và giao nộp cho Cơ quan điều tra 10 bộ Bu lông móc trên cùng 01 mỏ lết do L bỏ lại.
Tổng số tài sản trộm cắp là 81 bộ Bu lông móc đường sắt), gồm các bộ phận, phụ kiện chi tiết: 81 chiếc thân Bu lông, 81 chiếc Ecu, 81 chiếc Long đen vuông và 81 chiếc L1 đen vênh. Trong đó Nguyễn Đăng L và Nguyễn Đăng N trộm cắp 71 bộ; còn L một mình trộm cắp 10 bộ.
Tại bản kết luận định giá số: 19/KL- HĐĐGTS ngày 16/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P và Tại bản kết luận định giá số: 12/KL- HĐĐGTS ngày 29/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: 81 bộ Bu lông móc, gồm các bộ phận, phụ kiện chi tiết: 81 chiếc thân Bu lông, 81 chiếc Ecu, 81 chiếc Long đen vuông và 81 chiếc L1 đen vênh trị giá: 1.060.275 đồng.
Quá trình điều tra xác định Nguyễn Đăng L có tiền sự về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá. Do vậy hành vi nêu trên của L thoả mãn cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự;
Đối với Nguyễn Đăng N, quá trình điều tra xác định N chưa có tiền án, tiền sự gì. Do vậy hành vi nêu trên của N không cấu thành tội: “Trộm cắp tàn sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 23/5/2025 Cơ quan Công an đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N theo quy định với số tiền 2500.000đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Đối với chị Nguyễn Thu X, quá trình điều tra làm rõ khi mua tài sản của N và L chị X không biết là do L và N trộm cắp mà có. Vì vậy
Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị X về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
* Vật chứng thu giữ:
- Ngày 27/5/2024, Công ty Cổ phần Đ đã giao nộp cho cơ quan công an: 10 bộ Bu lông móc (01 bộ bu lông gồm: thân bu lông + ecu + long đen vuông + long đen vênh) và 01 chiếc mỏ lết được đựng trong bao tải xác rắn do Nguyễn Đăng L bỏ lại tại hiện trường mà công ty đã thu giữ được.
- Ngày 28/5/2024, chị Nguyễn Thu X đã giao nộp: 71 chiếc thân Bu lông móc, 62 chiếc Ecu, 65 chiếc long đen vuông, 62 chiếc long đen.
- Số vật chứng, tài sản chưa thu hồi được: 06 chiếc Long đen vuông; 09 chiếc Long đen vênh; 09 chiếc Ecu (các đối tượng khai nhận bị rơi trên đường di chuyển đem đi tiêu thụ.
- 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Vision, BKS: 88H1- 365.92 của Nguyễn Đăng L;
*Xử lý vật chứng: ;
- Đối với: 81 (Tám mốt) chiếc thân Bu lông móc; 72 (Bảy mươi hai) chiếc Ecu; 75 (Bảy mươi lăm) chiếc long đen vuông; 72 (Bảy mươi hai) chiếc long đen vênh là tài sản hợp pháp của Công ty Cổ phần Đ đề nghị trả lại cho công ty.
- Đối với: 01 (một) bao tải xác rắn đã cũ; 01 chiếc mỏ lết là công cụ bị cáo sử dụng để phạm tội, không còn giá trị sử dụng. Đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với BKS: 88H1- 365.92 là xe mô tô của L, bị cáo sử dụng làm phương tiện để đi trộm cắp và tiêu thụ tài sản. Do vậy đề nghị tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nước.
* Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo L đã bồi thường cho Công ty Cổ phần Đ số tiền 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng). Đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần Đ là anh Nguyễn Tiến C đã nhận số tiền trên, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác và tại phiên tòa anh C xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Ngày 24/8/2025, bị cáo L đã bồi thường trả cho chị Nguyễn Thu X 962.000 đồng. Chị X đã nhận đủ số tiền trên và không có có đề nghị gì khác.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo L hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số: 29/CT – VKSKV8 ngày 29 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Đăng L về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với các bị cáo; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử :
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình; xử phạt bị cáo L từ 08 tháng đến 10 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng như cáo trạng đã đề cập, bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Nguyễn Đăng L đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Phú Thọ đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Trong các ngày 18/5/2024; 22/5/2025; 23/5/2024; 24/5/2024 và ngày 25/5/2024 tại đường khu vực đường T - Lào Cai thuộc địa phận TDP Đ, phường P, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Đăng L và Nguyễn Đăng N đã có hành vi trộm cắp: 71 bộ Bu long móc đường sắt (Gồm 71 chiếc thân Bu lông, 71 chiếc Ecu, 71 chiếc Long đen vuông và 71 chiếc Long đen vênh) và ngày 26/5/2024 một mình L trộm cắp 10 bộ Bu lông móc đường sắt. Tổng tài sản Nguyễn Đăng L trộm cắp của Công ty Cổ phần Đ là 81 bộ Bu lông đường sắt trị giá: 1.060.275 đồng;
Nguyễn Đăng L trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản chưa được xóa, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy hành vi nêu trên của bị cáo L đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như sau:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá...dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm.
[3]Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Đăng L là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố. Do vậy phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra truy tố và xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tại phiên tòa đại diện hợp pháp cho bị hại đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên bị cáo có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự. Bị cáo bị áp dụng hình phạt tù cho bị cáo hưởng án treo ấn định thời gian thử thách và giao cho chính quyền địa phương như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục chung cũng như tạo điều kiện giúp bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh và làm rõ tại phiên tòa, bị cáo L có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[6] Về vật chứng của vụ án và trách nhiệm dân sự:
- Đối với: 81 (Tám mốt) chiếc thân Bu lông móc; 72 (Bảy mươi hai) chiếc Ecu; 75 (Bảy mươi lăm) chiếc long đen vuông; 72 (Bảy mươi hai) chiếc long đen vênh là tài sản hợp pháp của Công ty Cổ phần Đ trả lại cho công ty. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bao tải xác rắn đã cũ; 01 chiếc mỏ lết là công cụ bị cáo sử dụng để phạm tội, không còn giá trị sử dụng.
- Đối với xe mô tô BKS: 88H1- 365.92 của L, bị cáo sử dụng làm phương tiện để đi trộm cắp và tiêu thụ tài sản, nên cần phải tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nước.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra bị cáo L đã bồi thường cho Công ty Cổ phần Đ số tiền 1.600.000 đồng. Anh Nguyễn Tiến C đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần Đ đã nhận số tiền trên, nay không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác nên không xem xét. Tại phiên tòa đại diện của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Ngày 24/8/2025, bị cáo L đã trả cho chị Nguyễn Thu X số tiền 962.000 đồng. Chị X đã nhận đủ số tiền trên và không có có đề nghị gì khác, nên không xem xét.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng L 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng; thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đăng L cho Ủy ban nhân dân phường P, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Áp dụng Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại Công ty Cổ phần Đ gồm: 81 (Tám mốt) chiếc thân Bu lông móc; 72 (Bảy mươi hai) chiếc Ecu; 75 (Bảy mươi lăm) chiếc long đen vuông; 72 (Bảy mươi hai) chiếc long đen vênh (Đều đã cũ, qua sử dụng bị hoen rỉ);
Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bao tải xác rắn màu đỏ trắng và 01 chiếc mỏ lết đều đã cũ, qua sử dụng.
Tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nước của bị cáo L 01 xe mô tô nhãn hiệu Hon Đa Vision BKS: 88H1- 365.92 đã cũ, qua sử dụng;
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 23 tháng 12 năm 2025, giữa Công an tỉnh P với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8- Phú Thọ).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Nguyễn Đăng L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lưu Thị Thúy |
Bản án số 98/2025/HS-ST ngày 31/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 98/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
