Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 – ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98 /2025/HS-ST

Ngày 22-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vũ
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đời
  • Ông Nguyễn Văn Đích

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa:

Bà Trịnh Ngọc Thuỳ Trang - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo.

Trần Văn P (tên gọi khác: Phúc G), sinh năm 1989; giới tính: Nam; Căn cước số 048089005365; nơi ĐKTT: Tổ E, phường S, thành phố Đà Nẵng; nơi ở: K L, phường S, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N và bà Trần Thị H, gia đình có ba chị em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo có vợ Trịnh Thị L (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017;

- Tiền án: Năm 2023, bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự theo Bản án số 36/2023/HSST ngày 22-5-2023, chấp hành xong án phạt tù ngày 30/9/2024, chưa chấp hành án phí và biện pháp tư pháp, chưa được xóa án tích.

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân:

  • + Ngày 26-7-2018, bị Công an phường T, quận S xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi trộm cắp tài sản.
  • + Năm 2018, cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở xã hội B2.
  • + Ngày 26-11-2019, bị TAND quận Sơn Trà (cũ) quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 13 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số 118/2019/QĐ-TA).
  • + Ngày 28-01-2021 bị TAND quận Sơn Trà (cũ) quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 15 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số 11/2021/QĐ-TA).

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 14 tháng 10 năm 2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại N (Có mặt).

  • * Người giám hộ, đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Văn P: Bà Trần Thị H, sinh năm 1967; địa chỉ: K L, phường S, thành phố Đà Nẵng (Có mặt)
  • * Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn P: Luật sư Nguyễn Văn T - Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ (Có mặt)
  • * Bị hại:
    • - Ông Trần Văn B, sinh năm 1973; địa chỉ: Số A H, phường A, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt)
    • - Trung tâm V1
    • Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Danh V - Chức vụ: Giám đốc.

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1982, CCCD số 048082006153; địa chỉ: Số C N, phường N, thành phố Đà Nẵng (theo Giấy ủy quyền số 46/GUQ-VNPT-ĐAN-NSTH ngày 15/11/2025) (Có mặt)

  • * Người chứng kiến:
    • - Ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1983; địa chỉ: Số D T, phường S, thành phố Đà Nẵng (Có mặt)
    • - Ông Nguyễn Trí Q, sinh năm 1981; địa chỉ: Số B N, phường A, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 08/6/2025 đến 02/7/2025, để có phương tiện đi lại và tiền tiêu xài cá nhân, Trần Văn P đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn phường S, TP .. Cụ thể:

Vụ 1: Vào khoảng 09 giờ ngày 08/6/2025, khi đang đi bộ đến khu vực đường P - V, phường S, TP ., P phát hiện 01 xe mô tô hiệu Yamaha Taurus màu đen trắng BKS 43E1-703.21 của ông Trần Văn B (SN: 1973; trú: A H, phường A, TP .) đang dựng sát phần lề đường, chìa khóa treo trên xe, không có người trông coi nên trộm cắp để làm phương tiện đi lại. Sau đó, P tháo rời biển kiểm soát cất vào cốp xe và sử dụng đến ngày bị phát hiện.

* Theo kết luận định giá tài sản số 111/KL-HĐĐGTS ngày 03/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND thành phố Đ kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, màu đen trắng, có số khung RLCS16S209Y092220, số máy: 16S2092118 trị giá 2.967.000 đồng (BL: 35-36).

Vụ 2: Vào khoảng 17 giờ ngày 15/6/2025, P điều khiển xe Yamaha Taurus nêu trên mang theo kéo (nhặt được trước đó) đi trên các tuyến đường nhằm tìm kiếm tủ đấu nối tín hiệu có các đoạn dây cáp đồng lòi ra để cắt trộm, bán kiếm tiền tiêu xài. Khi đến tủ đấu nối viễn thông của Trung tâm V1 đối diện C T, phường S, TP ., P dùng kéo cắt 1,5m dây cáp đồng có vỏ màu đen chủng loại 100x2x0,5 và 1,5m dây cáp đồng có vỏ màu đen chủng loại 50x2x0,5. Sau đó, P đem đốt lấy đồng và bán cho một người mua phế liệu (không rõ lai lịch) được 150.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết (chưa thu hồi được tài sản).

* Theo kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 04/11/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND phường S kết luận: 02 đoạn dây cáp đồng, vỏ màu đen, sợi có chủng loại 100x2x0,5 có chiều dài 1,5 m và sợi có chủng loại 50x2x0,5 có chiều dài 1,5 m trị giá 160.000 đồng (BL: 39-41).

Vụ 3: Vào khoảng 09 giờ ngày 19/6/2025, P điều khiển xe Yamaha Taurus nêu trên đến tủ đấu nối tín hiệu viễn thông của Trung tâm V1 trước nhà số D đường L, phường S, TP., dùng kéo cắt 1,5m dây cáp đồng có vỏ màu đen chủng loại 100x2x0,5; 1,5m dây cáp đồng có vỏ màu đen chủng loại 50x2x0,5 và 1,5m dây cáp đồng có vỏ màu đen chủng loại 30x2x0,5. Sau đó, P đem đốt lấy đồng và bán cho một người mua phế liệu (không rõ lai lịch) được 200.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết (chưa thu hồi được tài sản).

* Theo kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 04/11/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND phường S kết luận: 03 đoạn dây cáp đồng, vỏ màu đen, sợi có chủng loại 100x2x0,5 có chiều dài 1,5 m, sợi có chủng loại 50x2x0,5 có chiều dài 1,5 m và sợi có chủng loại 30x2x0,5 có chiều dài 1,5 m trị giá 190.000 đồng (BL: 39-41).

Vụ 4: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 02/7/2025, P điều khiển xe Yamaha Taurus nêu trên đến tủ đấu nối tín hiệu viễn thông của Trung tâm V1 tại khu vực đường Y - B, phường S, TP dùng kéo cắt 03 đoạn dây cáp đồng chủng loại 100x2x0,5, có chiều dài mỗi đoạn 1m, 1,1m, 1,4m chuẩn bị mang đi đốt lấy đồng bán thì bị nhân viên của Trung tâm là anh Huỳnh Văn H1 (SN: 1983; HKTT: 47 T, phường S, TP .) và anh Nguyễn Trí Q (SN: 1981; HKTT: 22 N, phường A, TP .) phát hiện và đưa về cơ quan công an làm việc.

* Theo kết luận định giá tài sản số 111/KL-HDĐGTS ngày 03/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND thành phố Đ kết luận: 03 đoạn dây cáp đồng, vỏ màu đen, chủng loại 100x2x0,5, có chiều dài mỗi đoạn 1m, 1,1m, 1,4m trị giá 30.000 đồng (BL: 35-36).

Tổng giá trị tài sản P trộm cắp là: 3.347.000 đồng; số tiền thu lợi bất chính là: 350.000 đồng.

* Tang vật tạm giữ của Trần Văn P: 03 đoạn dây cáp đồng có vỏ màu đen, chủng loại 100x2x0.5, có chiều dài mỗi đoạn khoảng 1m, 1,1m, 1,4m; 01 cái kéo màu đen, kim loại, dài khoảng 20cm; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Taurus, màu đen trắng, không gắn BKS (BL: 103-104, 132).

* Về kết quả giám định tâm thần: Theo kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 1737/KLGĐ ngày 29/9/2025 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền T - Bộ Y: Tại thời điểm trước, trong khi thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản và thời điểm hiện tại: Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy và chất tác động tâm thần khác, rối loạn loạn thần mức độ vừa/nhẹ (F19.5 – ICD-10). Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi (BL: 44-48).

Quá trình điều tra, Trần Văn P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên (BL: 178-190).

* Về xử lý vật chứng:

  • - Ngày 11/11/2025, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã có Quyết định xử lý vật chứng số 13306, 13307 trả lại xe mô tô hiệu Yamaha Taurus màu đen trắng cho ông Trần Văn B và 03 đoạn dây cáp đồng cho Trung tâm V1 là có căn cứ (BL: 198-203).
  • - Đối với 01 cái kéo màu đen, kim loại, dài khoảng 20cm: Chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Đà Nẵng bảo quản, chờ xử lý theo quy định pháp luật.

* Về dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm

Bản Cáo trạng số 14/CT-VKS-KV2 ngày 24/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng truy tố bị cáo Trần Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm q, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn P từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

  • - Tịch thu, tiêu hủy 01 cái kéo kim loại màu đen, dài khoảng 20 cm là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng.
  • - Xác định việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ ban hành các Quyết định xử lý vật chứng số 13306 và 13307 ngày 11/11/2025, trả lại xe mô tô hiệu Yamaha Taurus màu đen - trắng cho ông Trần Văn B và trả lại 03 đoạn dây cáp đồng cho Trung tâm V1 là đúng quy định pháp luật.

Biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền thu lợi bất chính 350.000 đồng của bị cáo Trần Văn P từ việc bán tài sản do phạm tội mà có để sung công quỹ Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày và đề nghị: Thống nhất với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, cụ thể: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội trong điều kiện khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi bị hạn chế theo Kết luận giám định pháp y tâm thần; cha bị cáo hiện đang đau ốm; bị cáo tự khai ra các lần phạm tội trước đó; tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt không lớn, phần lớn tài sản đã được thu hồi và các bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Từ những tình tiết giảm nhẹ nêu trên, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt phù hợp, thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát, thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Người giám hộ đại diện hợp pháp của bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo Trần Văn P nói lời sau cùng: Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn P khai nhận rõ ràng, thống nhất và phù hợp với nội dung bản Cáo trạng số 14/CT-VKS-KV2 ngày 24/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người chứng kiến; phù hợp biên bản thu giữ vật chứng; các kết luận định giá tài sản; kết luận giám định pháp y tâm thần cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 08/6/2025 đến ngày 02/7/2025, bị cáo Trần Văn P đã 04 lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác trên địa bàn phường S, thành phố Đà Nẵng, cụ thể:

  • Lần thứ nhất: Ngày 08/6/2025, bị cáo chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Yamaha Taurus của ông Trần Văn B, trị giá 2.967.000 đồng.
  • Lần thứ hai: Ngày 15/6/2025, bị cáo cắt trộm 02 đoạn dây cáp đồng của Trung tâm V1, trị giá 160.000 đồng.
  • Lần thứ ba: Ngày 19/6/2025, bị cáo tiếp tục cắt trộm 03 đoạn dây cáp đồng của Trung tâm V1, trị giá 190.000 đồng.
  • Lần thứ tư: Ngày 02/7/2025, bị cáo cắt trộm 03 đoạn dây cáp đồng của Trung tâm V1, trị giá 30.000 đồng thì bị phát hiện.

Tổng giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt là 3.347.000 đồng; tổng số tiền bị cáo thu lợi bất chính là 350.000 đồng.

[3] Về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo Trần Văn P là lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân, tổ chức, được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nhằm mục đích tư lợi, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Mặc dù giá trị tài sản chiếm đoạt trong từng lần không lớn, nhưng tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt vượt quá 2.000.000 đồng, nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Mặc dù giá trị tài sản bị chiếm đoạt trong từng lần trộm cắp có lần dưới 2.000.000 đồng, nhưng bị cáo Trần Văn P đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích mà còn tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý, nên các hành vi nêu trên đều đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần trong thời gian ngắn và thuộc trường hợp tái phạm, nên phải chịu các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện khai ra các lần phạm tội trước đó. Đặc biệt, theo Kết luận giám định pháp y tâm thần số 1737/KLGĐ ngày 29/9/2025, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm hiện tại, bị cáo bị rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy, bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, nên được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm q, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, nên cần xử lý nghiêm. Do đó, cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung.

[7] Về xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 13306, 13307 ngày 11/11/2025 trả lại xe mô tô cho ông Trần Văn B và trả lại dây cáp đồng cho Trung tâm V1 là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với 01 cái kéo màu đen, kim loại, dài khoảng 20 cm là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

[8] Biên pháp tư pháp: Truy thu số tiền thu lợi bất chính 350.000 đồng của Trần Văn P để sung công quỹ Nhà nước

[9] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[10] Về vấn đề khác: Đối với những người mua dây cáp đồng từ P, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã có thông báo truy tìm nhưng hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm q, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trần Văn P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14-10-2025.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. T1:
  4. Tịch thu tiêu hủy: 01 cái kéo màu đen, bằng kim loại, dài khoảng 20cm.

    (Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Đà Nẵng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/12/2025).

  5. B1 pháp tư pháp: Truy thu số tiền thu lợi bất chính 350.000 đồng của Trần Văn P để sung công quỹ Nhà nước
  6. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  7. Bị cáo Trần Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  8. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
  9. Bị cáo; người giám hộ, đại diện hợp pháp của bị cáo; người bào chữa; bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND khu vực 2 - Đà Nẵng;
  • - Sở Tư pháp TP. Đà Nẵng;
  • - Công an TP. Đà Nẵng;
  • - THADS TP. Đà Nẵng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Nguyễn Quốc Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2025/HS-ST ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 98/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Phúc phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm q, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn Phúc 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14-10-2025. 2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 01 cái kéo màu đen, bằng kim loại, dài khoảng 20cm. (Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Đà Nẵng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/12/2025). 3. Biên pháp tư pháp: Truy thu số tiền thu lợi bất chính 350.000 đồng của Trần Văn Phúc để sung công quỹ Nhà nước
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger