Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8- PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2025/HS-ST

Ngày 31-12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Thúy .

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đường Ngọc Đại và bà Nguyễn Thị Kim Luyến;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Nhật Mai, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8- Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trần Hồng Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8- Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86//2025/TLST - HS ngày 05 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: ĐỖ THỊ MINH L, sinh ngày 19 tháng 02 năm 1972; Đăng ký HKTT: Thôn B, xã T, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện tại: Thôn T, xã K, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đỗ Văn Q (Đã chết) con bà Nguyễn Thị B; có chồng đã ly hôn, con có 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1995. Tiền sự: Không.

Tiền án: 04, cụ thể:

Bản án hình sự sơ thẩm số: 106/2025/HSST ngày 17/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, xử Đỗ Thị Minh L 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng về tội: “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành nộp án phí ngày 17/10/2016.

Bản án hình sự sơ sơ thẩm số: 24/2025/HSST ngày 07/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, xử Đỗ Thị Minh L 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; giá trị tài sản trộm cắp dưới 2000.000đồng. Tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự số: 106/ HSST ngày 17/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh; buộc L phải chấp hành hình phạt chung là 24 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/10/2018, nộp án phí ngày 11/7/2017.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 100/2025/HSST ngày 17/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng điểm h (Tái phạm) khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử Đỗ Thị Minh L 24 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/02/2021; nộp án phí ngày 08/5/2020.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 95/HSST ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 - Phú Thọ), áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173 (Tái phạm nguy hiểm) của Bộ luật hình sự, xử phạt Đỗ Thị Minh L 02 năm 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/02/2025, án phí nộp tháng 02/2023.

Ngoài 04 tiền án trên, ngày 30/10/2013, bị cáo L bị Công an thị trấn Q, huyện M, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, mức phạt 1.500.000đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Chấp hành nộp phạt ngày 30/10/2013, đã được xóa.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/8/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh P.

* Bị hại: Chị Dương Thị T, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Thôn H, xã V, tỉnh Phú Thọ;

Có đơn xin xét xử vắng mặt;

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1976; có mặt;

Địa chỉ: Thôn B, xã T, thành phố Hà Nội;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 30 phút sáng ngày 09/8/2025, Đỗ Thị Minh L, một mình điều khiển xe mô tô BKS: 29Z1 - 368.61 từ thôn T, xã K, thành phố Hà Nội đến chợ X thuộc phường X, tỉnh Phú Thọ để mua đồ ăn sáng. Khi đi đến khu vực lối vào chợ X, đối diện cầu Đ, Đỗ Thị Minh L vào cửa hàng bán hoa quả ven đường để mua hoa quả. Quá trình mua hoa quả, L thấy xe ô tô, (loại xe tải thùng kín) BKS: 88B-035.13 của chị Dương Thị T đang đỗ ở mép đường bên phải lối vào chợ X. Đỗ Thị Minh L quan sát thấy 02 cánh cửa phía sau thùng xe mở nên nhìn vào bên trong thùng xe thấy có các thùng xốp đựng các túi nilon có chứa bánh, bún... Tại vị trí gần cửa thùng xe có 02 thùng xốp xếp chồng lên nhau, trên mặt thùng xốp phía trên có 01 túi nilon màu trắng, bên trong túi nilon có tiền và 01 ví nữ giả da màu nâu xám, L nảy sinh ý định trộm cắp tiền bên trong chiếc túi nilon. Quan sát thấy chị T đang bán hàng thường xuyên đi lại, không quản lý tài sản, lợi dụng lúc không có ai để ý, L đi đến gần cửa thùng xe, dùng tay phải lấy chiếc túi nilon bên trong có tiền, ví giả da rồi để vào chiếc túi chất liệu catton màu đen của L. Sau đó, L đi bộ vào trong chợ X, cởi bỏ chiếc áo chống nắng màu cam mặc bên ngoài, để vào trong túi xách chất liệu catton màu đen để tránh bị phát hiện. Sau đó L đi ra cổng chợ, để chiếc túi chất liệu catton màu đen ở vị trí gốc cây rồi đi đến vị trí để xe mô tô BKS: 29Z1 - 368.61, cất mũ bảo hiểm vào trong cốp xe mô tô và điều khiển xe mô tô này đi đến gốc cây gần cổng chợ X, lấy túi xách chất liệu catton để tại gốc cây trước đó rồi để vào vị trí để chân phía trước xe mô tô và điều khiển xe đi đến đường T, thuộc tổ dân phố X. Khi đi đến một bãi đất trống ven đường, L dừng xe lại và lấy toàn bộ tiền bên trong túi nilon vừa trộm cắp, kiểm đếm được số tiền là 5.200.000 đồng (Năm triệu hai trăm nghìn đồng); Lý cất số tiền trên vào túi xách chất liệu catton màu đen của L. Sau đó L, tiếp tục kiểm tra bên trong ví giả da màu nâu xám thấy không có tiền mà chỉ có một số giấy tờ nên L không kiểm tra nữa, L để lại giấy tờ vào trong ví, buộc túi nilon lại và vứt túi nilon cùng ví giả da vào bụi cây gần bãi đất trống ven đường. Sau đó, L điều khiển xe về nhà trọ tại thôn T, xã K, thành phố Hà Nội và tiêu xài cá nhân hết 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng), trong số tiền 5.200.000 đồng L đã trộm cắp được.

Ngày 12/8/2025, Cơ quan Công an phường X, tỉnh Phú Thọ đã triệu tập Đỗ Thị Minh L để làm việc. Tại Cơ quan điều tra L tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an số tiền trộm cắp còn lại 4.600.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) và chỉ dẫn đến vị trí L đã vứt bỏ chiếc túi nilon bên trong có giấy tờ đã trộm cắp được của chị T.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 183/ ngày 28/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản đã định giá: 01 ví nữ giả da màu nâu xám, đã qua sử dụng có trị giá là 22.000₫ (Hai mươi hai nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản mà L đã trộm cắp của chị Dương Thị T là: 5.200.000đ + 22.000đ = 5.222.000đồng.

*Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng

- Tạm giữ của Đỗ Thị Minh L 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, màu xanh đen, BKS: 29Z1 - 368.61, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản của em trai L là anh Đỗ Văn H. Khi cho Đỗ Thị Minh L mượn xe, anh H không biết mục đích L sử dụng xe mô tô để đi trộm cắp tài sản. Ngày 05/11/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh H, nay anh H không yêu cầu đề nghị gì.

- 01 ví nữ giả da màu nâu xám, có quai đeo, bên trong có 01 căn cước công dân, 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô, 01 Giấy phép lái xe hạng A1, 01 Giấy phép lái xe hạng B2, 01 Chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới và 01 Thẻ bảo hiểm y tế, đều mang tên Dương Thị T. Đây là tài sản hợp pháp của chị Dương Thị T, ngày 05/11/2025 Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản này cho chị T, nay chị T không yêu cầu đề nghị gì.

*Về trách nhiệm dân sự:

- Cơ quan điều tra đã trả lại chị Dương Thị T số tiền 4.600.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng), là số tiền bị cáo đã trộm cắp của chị T; Cơ quan điều tra đã trả cho chị T số tiền này, chị T đã nhận lại. Đối với số tiền 600.000 đồng mà L đã tiêu xài cá nhân trong tổng số tiền 5.200.000 đồng bị cáo đã trộm cắp của chị T. Quá trình điều tra, bị cáo L đã tác động nhờ anh Đỗ Văn H trả lại số tiền 600.000 đồng cho chị T. Nay chị T và anh H không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thị Minh L đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số: 34/CT-VKSPY ngày 05 tháng 12 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Phú Thọ đã tuy tố bị cáo L về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo L từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 12/8/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh P - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Phú Thọ, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thị Minh L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Phú Thọ đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, cách thức thực hiện tội phạm, phù hợp với các chứng cứ được thu thập. Từ đó, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 09/8/2025, tại khu vực cổng chợ X, thuộc phường X, tỉnh Phú Thọ; Đỗ Thị Minh L đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc túi nilon bên trong có số tiền 5.200.000 đồng (Năm triệu hai trăm nghìn đồng) và 01 ví nữ giả da màu nâu xám trị giá 22.000 đồng, bên trong ví có các giấy tờ, gồm: 01 căn cước công dân, 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô, 01 Giấy phép lái xe hạng A1, 01 Giấy phép lái xe hạng B2, 01 Chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới và 01 Thẻ bảo hiểm y tế, đều mang tên Dương Thị T. Trị giá tài sản trộm cắp là 5.222.000 đồng (Năm triệu hai trăm hai mươi hai nghìn đồng).

[3] Đỗ Thị Minh L đã có 04 tiền án về hành vi trộm cắp tài sản, đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội cố ý trộm cắp tài sản. Nên hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ Thị Minh L đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự

Cụ thể khoản 2 Điều 173 quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...,

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm……

g. Tái phạm nguy hiểm...”.

[4] Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương. Do vậy cần phải đưa ra để xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[5] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Quá trình điều tra, bị cáo L luôn thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền trộm cắp 4600.000đồng và đã tác động nhờ em trai bồi thường, khắc phục hậu quả số tiền 600.000đồng để trả lại cho người bị hại. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đỗ Thị Minh L đã có 04 tiền án về hành vi trộm cắp tài sản và 01 lần bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Nhưng bị cáo không coi đó là bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản, từ đó cho thấy bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật. Nên cần phải áp dụng hình phạt tù giam như đề nghị của Viện kiểm sát mới có tác dụng giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

[6] Mặc dù bị cáo Đỗ Thị Minh L có 04 tiền án về hành vi trộm cắp tài sản và 01 lần bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Nhưng bản thân bị cáo làm nghề tự do thường xuyên đi làm có thu nhập để phục vụ cuộc sống của mình, bị cáo không lấy tài sản trộm cắp làm nguồn sống chính. Nên không áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là phù hợp;

[7] Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh và làm rõ tại phiên tòa, bị cáo L có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và không có tài sản gì. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[8] Về vật chứng của vụ án: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, màu xanh đen, Biển kiểm soát 29Z1 - 368.61, đã qua sử dụng, bị cáo sử dụng đi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của anh Đỗ Văn H (em trai L). Khi cho Đỗ Thị Minh L mượn xe, anh H không biết mục đích L sử dụng xe mô tô để đi trộm cắp tài sản. Ngày 05/11/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh H, nay anh H không yêu cầu đề nghị gì

- 01 ví nữ giả da màu nâu xám, có quai đeo, bên trong có 01 căn cước công dân, 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô; 01 Giấy phép lái xe hạng A1; 01 Giấy phép lái xe hạng B2, 01 Chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới và 01 Thẻ bảo hiểm y tế đều mang tên Dương Thị T. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Dương Thị T, ngày 05/11/2025 Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản này cho chị T.

[9] Về trách nhiệm dân sự:

- Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T số tiền bị cáo L trộm cắp là 4.600.000đồng (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). Đối với số tiền 600.000 đồng mà L đã tiêu xài cá nhân trong tổng số tiền 5.200.000 đồng trộm cắp của chị T. Quá trình điều tra, bị cáo L đã tác động nhờ anh Đỗ Văn H trả lại số tiền 600.000 đồng cho chị T. Chị T đã nhận đủ số tiền 5200.000đồng, nay chị không có yêu cầu gì khác. Anh H cũng không yêu cầu bị cáo L phải trả cho anh số tiền 600.000đồng này, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Thị Minh L phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Minh L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Minh L 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày bắt tạm giam ngày 12/8/2025;

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Đỗ Thị Minh L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật;

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 8- Phú Thọ;
  • - Phòng THA DS khu vực 8- Phú Thọ;
  • - Trại tạm giam số 2 CA tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan CSĐT C.A tỉnh Phú Thọ;
  • -Phòng hồ sơ nghiệp vụ -C.A Phú Thọ;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lưu Thị Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2025/HS-ST ngày 31/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 97/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Minh L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger