Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 31-12-2025

“V/v Ly hôn,

Tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- AN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Mộng Thúy
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Hoài
  • Ông Hà Minh Hằng

Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Tuyết Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7- An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- An Giang tham gia phiên tòa: Vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7- An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lâm Bé Ú, sinh ngày 02/02/1996
  2. Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, tỉnh Cà Mau.

    (Chị Lâm Bé Ú có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)

  3. Bị đơn: Anh Huỳnh Trọng C, sinh năm 1982
  4. Địa chỉ: Ấp 3, xã An Biên, tỉnh An Giang

    (Anh Huỳnh Trọng C vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án của nguyên đơn là chị Lâm Bé Ú:

Chị Lâm Bé Ú và anh Huỳnh Trọng C tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2018, không có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang vào ngày 09/11/2018. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, nhưng thời gian sau thường xảy ra cự cải bất hòa làm cho đời sống chung không còn hạnh phúc, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã cố gắng để hòa hợp nhưng không thành và đã sống ly thân nhau. Chị Lâm Bé Ú nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với anh Huỳnh Trọng C nên làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là Huỳnh Phú T, sinh ngày 31/8/2018 hiện đang sống cùng chị Lâm Bé Ú. Khi ly hôn chị Lâm B Út có nguyện vọng tiếp tục nuôi con, chị Lâm Bé Ú không yêu cầu anh Huỳnh Trọng C cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lâm Bé Ú xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn- anh Huỳnh Trọng C vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của chị Lâm Bé Ú.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa:

Nguyên đơn – Chị Lâm Bé Ú có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Trọng C. Khi ly hôn chị Lâm Bé Ú có nguyện vọng tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh Huỳnh Trọng C cấp dưỡng nuôi con chung và xác định không có tài sản chung, không có nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Tại đơn khởi kiện xin ly hôn chị Lâm Bé Ú cung cấp cho Tòa án xác nhận tình trạng cư trú của anh Huỳnh Trọng C, xác nhận anh Huỳnh Trọng C có đăng ký thường trú tại địa chỉ Tổ I, khu phố C, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (nay là tổ I, ấp C, xã A, tỉnh An Giang). Chị Lâm Bé Ú khởi kiện xin ly hôn với anh Huỳnh Trọng C có nơi cư trú tại ấp C, xã A, tỉnh An Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đây là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7- An Giang.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến bị đơn anh Huỳnh Trọng C biết về việc chị Lâm Bé Ú khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Trọng C nhưng anh Huỳnh Trọng C không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Toà án tổ chức và thông báo cho các bên đương sự để tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ, nhưng anh Huỳnh Trọng C vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Nguyên đơn chị Lâm Bé Ú có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và giữ nguyên ý kiến như đơn khởi kiện ly hôn. Bị đơn anh Huỳnh Trọng C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 theo triệu tập hợp lệ của Tòa án. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Xét đơn khởi kiện của chị Lâm Bé Ú và các vấn đề liên quan đến vụ án:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Bé Ú và anh Huỳnh Trọng C tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (nay là xã A, tỉnh An Giang) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 106/2018 ngày 09/11/2018 phù hợp theo quy tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Chị Lâm Bé Ú xin ly hôn với anh Huỳnh Trọng C, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh Huỳnh Trọng C vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Bé Ú. Chị Lâm Bé Ú khởi kiện xin ly hôn anh Huỳnh Trọng C với lý do: Chị Lâm Bé Ú không còn tình cảm vợ chồng với anh Huỳnh Trọng C và đã sống ly thân với anh Huỳnh Trọng C. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Lâm B Ú và anh Huỳnh Trọng C là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lâm Bé Ú.
  • - Về con chung: Chị Lâm Bé Ú xác định có 01 con chung là Huỳnh Phú T, sinh ngày 31/8/2018, hiện cháu T đang sống cùng chị Lâm Bé Ú. Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử giao con chung cho chị Lâm B Út nuôi dưỡng, phù hợp nguyện vọng cháu T. Chị Lâm Bé Ú và anh Huỳnh Trọng C đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con chung. Khi cần thiết anh, chị có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con chung theo quy định pháp luật.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Lâm B Út không có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con và anh Huỳnh Trọng C cũng không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này. Nếu các bên có phát sinh tranh chấp cấp dưỡng nuôi con thì khởi kiện thành vụ kiện khác để được xem xét giải quyết.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lâm Bé Ú xác định không có tài sản chung, không có nợ chung, anh Huỳnh Trọng C cũng không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này. Nếu các bên có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết trong vụ án khác.

[3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nguyên đơn chị Lâm Bé Ú phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Bé Ú được ly hôn với anh Huỳnh Trọng C.
  2. Về con chung: Giao con chung là Huỳnh Phú T, sinh ngày 31/8/2018 cho chị Lâm B Út nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết anh, chị có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lâm Bé Ú xác định không có, anh Huỳnh Trọng C cũng không có ý kiến nên không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Nếu các bên phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện yêu cầu giải quyết trong vụ án khác.
  4. Về án phí: Nguyên đơn chị Lâm Bé Ú phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0 003671 (Ký hiệu: BLTU/25E) ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Chị Lâm Bé Ú đã nộp đủ.
  5. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND khu vực 7- An Giang;
  • - Phòng THADSKV7-An Giang;
  • - UBND nơi ĐKKH (UBND xã An Biên);
  • - Lưu (Nhi).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Trần Mộng Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 97/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger