|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2026/DS-PT
Ngày: 28-01-2026
V/v: Tranh chấp quyền sử
dụng đất, yêu cầu di dời tài
sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thế Hồng;
Ông Lê Minh Đạt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xa Riêng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 475/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 33/2025/DS-ST ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 672/2025/QĐ-PT ngày 01 tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 694/2025/QĐPT-DS ngày 31 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
Bà Phạm Thị H, sinh năm 1951.
Địa chỉ: Số E, Trần Quốc T, Khóm D, Phường C, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay là Khóm I, phường T, tỉnh Vĩnh Long).
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Phạm Thị H: Ông Lâm Khắc S, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số C, K, Khóm A, Phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay là Khóm A, phường N, tỉnh Vĩnh Long). (Có mặt)
- Bị đơn:
+ Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1966; (Có mặt)
+ Ông Thạch Hoàng D, sinh năm 1956; (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Số E, Đ, Khóm H, Phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay là Khóm A, phường T, tỉnh Vĩnh Long).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Thạch Hoàng N, sinh năm 2005; (Vắng mặt)
+ Chị Thạch T2, sinh năm 2003; (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Số E, Đ, Khóm H, Phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay là Khóm A, phường T, tỉnh Vĩnh Long).
- Người kháng cáo: Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị H là ông Lâm Khắc S; bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm;
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, ông Lâm Khắc S là người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị H trình bày như sau:
Bà Phạm Thị H là chủ quyền sử dụng đất diện tích 66,5m², thuộc thửa đất số 170, tờ bản đồ số 18, loại đất trồng cây lâu năm; đất tọa lạc tại khóm H, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay là khóm A, phường T, tỉnh Vĩnh Long) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng dất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM 986313 cấp ngày 29/9/2023 (sau đây gọi tắt là thửa đất số 170) cho bà Phạm Thị H đứng tên.
Về nguồn gốc đất, bà H nhận chuyển nhượng từ bà Thạch Thị S1 vào khoảng năm 2009. Tuy nhiên, thời điểm nhận chuyển nhượng do chưa có nhu cầu sử dụng nên đất bà H để trống chưa xây dựng gì cả. Bà Phạm Thị T1 là em ruột của bà H, có nhà ở giáp ranh với thửa đất này, lợi dụng sơ hở trong việc bà H để đất bỏ trống nên gia đình bà T1 gồm: bà T1 với chồng là ông Thạch Hoàng D và 02 con ruột là anh Thạch Hoàng N, chị Thạch T2, đã lấn chiếm đất rồi tự ý xây dựng tường rào gạch che chắn hết mặt tiếp giáp hẻm L, bên trong xây cất nhà tạm và nhiều công trình phụ khác từ khoảng năm 2010 cho đến nay (thời gian đã quá lâu nên không nhớ rõ cụ thể). Do có nhu cầu sử dụng, bà H có yêu cầu gia đình bà T1 di dời tài sản đi nơi khác, trả lại cho bà H toàn bộ diện tích đất lấn chiếm tại thửa đất số 170 nêu trên thì gia đình bà T1 không đồng ý nên hai bên xảy ra tranh chấp.
Qua xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản cùng ngày 19/3/2025 thì bà H thống nhất với kết quả thẩm định và định giá, qua đó xác định các tài sản ông D, bà T1 đã xây dựng, tôn tạo trên thửa đất số 170 nêu trên với tổng giá trị là 29.276.550 đồng.
Theo đơn khởi kiện, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D, anh Thạch Hoàng N và chị Thạch T2 phải di dời toàn bộ tài sản nêu trên và vật dụng cá nhân đi nơi khác để trả lại cho bà H quyền sử dụng đất tại thửa đất số 170 nêu trên. Đối với yêu cầu phản tố của bà T1, ông D về việc sẽ giao lại toàn bộ các tài sản gắn liền với thửa đất 170 thì bà H đồng ý nhận và đồng ý hoàn trả lại giá trị công sức bà T1, ông D đã đầu tư, tôn tạo, gìn giữ đất với số tiền 29.276.550 đồng, nhưng không đồng ý hỗ trợ tiền chi phí di dời và công sức gìn giữ đất với số tiền 10.000.000 đồng vì việc gia đình bà T1 phải di dời vật dụng cá nhân đi nơi khác và trả lại quyền sử dụng đất cho bà H là nghĩa vụ của gia đình bà T1.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, đồng bị đơn có yêu cầu phản tố bà Phạm Thị T1 và ông Thạch Hoàng D trình bày có cùng nội dung như sau:
Bà Phạm Thị T1 và ông Thạch Hoàng D thừa nhận thửa đất số 170 là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Phạm Thị H. Do bà T1 và bà H là chị em ruột nên trước đây bà H đã nhờ trông coi giúp thửa đất nêu trên. Bà H đã đồng ý cho gia đình bà T1 xây dựng, tôn tạo thửa đất này để sử dụng và trông coi giúp bà H vì bà H không có ở trên thửa đất này.
Nay, trước yêu cầu khởi kiện của bà H thì bà T1, ông D cũng thống nhất trả lại thửa đất số 170 nêu trên cho bà H. Tuy nhiên, trong quá trình quản lý sử dụng, trông coi dùm thửa đất trên thì bà T1, ông D có xây dựng một số công trình và tôn tạo đối với thửa đất, bao gồm:
(1) Nền láng xi măng, có bó nền, diện tích 66,5m², đơn giá 493.000đồng/m²; tỉ lệ còn lại 30%, thành tiền: 9.835.350 đồng;
(2) Nhà cột kèo gỗ tạp, mái tol, diện tích 29,4m², đơn giá 665.000đồng/m²; tỉ lệ còn lại 25%, thành tiền: 4.887.750 đồng;
(3) 01 bức tường xây gạch ống, tô 01 mặt, diện tích 10,29m², đơn giá 499.000đồng/m²; tỉ lệ còn lại 30%, thành tiền: 1.540.413 đồng;
(4) 01 bức tường xây gạch ống, tô 02 mặt, diện tích 9,62m², đơn giá 499.000đồng/m²; tỉ lệ còn lại 30%, thành tiền: 1.440.114 đồng;
(5) 01 bức tường xây gạch ống, tô 02 mặt, diện tích 10,29m², đơn giá 499.000đồng/m²; tỉ lệ còn lại 30%, thành tiền: 1.540.413 đồng;
(6) 01 bức tường xây gạch ống, tô 01 mặt (01 phần là bức tường phía trên của bức tường giáp thửa 169, tính từ đường bê tông vào và 01 phần là bức tường ở phía sau hàng rào lưới B40, diện tích 18,27m², đơn giá 499.000đồng/m2; tỉ lệ còn lại 30%, thành tiền: 2.735.019 đồng;
(7) 01 hàng rào lưới B40 xây gạch lửng, diện tích 12,5m², đơn giá 751.000đồng/m²; tỉ lệ còn lại 30%, thành tiền: 2.816.250 đồng;
(8) 01 mái hiên, kết cấu đỡ bằng thép, mái lợp tol, diện tích 23,22m², đơn giá 321.651đồng/m²; tỉ lệ còn lại 60%, thành tiền: 4.481.241 đồng;
Tổng cộng các giá trị tài sản nêu trên là: (1)+(2)+(3)+(4)+(5)+(6)+(7)+(8) = 29.276.550 đồng.
Do đó, nếu bà H muốn gia đình bà T1, ông D trả lại thửa đất thì phải hoàn trả lại giá trị tài sản mà bà T1, ông D tôn tạo, xây dựng trên đất, phải hỗ trợ tiền công sức tôn tạo, gìn giữ đất và chi phí di dời với số tiền tổng cộng là 39.276.550 đồng (ba mươi chín triệu hai trăm bảy mươi sáu ngàn năm trăm năm mươi đồng). Cụ thể: Hoàn trả số tiền đã đầu tư, tôn tạo, gìn giữ đất với số tiền là 29.276.550 đồng; Hỗ trợ tiền chi phí di dời tài sản và công sức gìn giữ đất với số tiền là 10.000.000 đồng. Đồng thời, bà T1, ông D và các con đồng ý giao lại toàn bộ tài sản gắn liền với đất theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 19/3/2025 cho bà H tiếp tục quản lý, sử dụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Thạch T2 trình bày: Chị T2 thống nhất với toàn bộ nội dung ý kiến, yêu cầu của bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D, ngoài ra chị T2 không có ý kiến, yêu cầu gì khác, không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thạch Hoàng N vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của vụ án, không có lời khai, cũng không có ý kiến, yêu cầu gì.
Tại phiên toà sơ thẩm:
Ông Lâm Khắc S là người đại diện của nguyên đơn trình bày giữ nguyên quan điểm trình bày như trên. Đồng thời, nguyên đơn có ý kiến đồng ý hỗ trợ cho bị đơn số tiền chi phí di dời nhưng với mức hợp lý và để Hội đồng xét xử quyết định. Mức yêu cầu hỗ trợ chi phí di dời và công sức gìn giữ đất với số tiền 10.000.000 đồng bị đơn đưa ra là không hợp lý bởi vì toàn bộ tài sản trên đất tranh chấp giao lại cho nguyên đơn nên phía bị đơn chỉ di dời vật dụng cá nhân, không cần chí phí di dời nhiều. Bị đơn cho rằng có công sức gìn giữ đất là không đúng vì việc bị đơn chiếm dụng, sử dụng đất của nguyên đơn không xuất phát từ việc nguyên đơn yêu cầu hay nhờ bị đơn gìn giữ. Về thời gian lưu cư thì nguyên đơn cũng đồng ý cho thời gian lưu cư là 01 tháng.
Đồng bị đơn bà T1 và ông D giữ nguyên quan điểm trình bày như trên và xin thời gian lưu cư đến đầu tháng 01 năm 2026 với điều kiện là nguyên đơn phải đưa đủ số tiền như bị đơn đã yêu cầu như trên thì bị đơn mới di dời và hoàn trả đất cho nguyên đơn.
Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2025/DS-ST ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long đã tuyên:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 157, 158, 165, 166, 177 và Điều 227, 228; 266, 267, 271, 273, 278, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Áp dụng Điều 166, 259, 262, 265, 266, 494, 496, 499 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 166 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 Luật Đất đai năm 2023;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị H. Buộc bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D, chị Thạch T2, anh Thạch Hoàng N có nghĩa vụ di dời toàn bộ vật dụng cá nhân đi nơi khác và giao trả cho bà Phạm Thị H quyền sử dụng đất diện tích 66,5m², thuộc thửa đất số 170, tờ bản đồ số 18, loại đất trồng cây lâu năm; đất tọa lạc tại khóm H, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay là khóm A, phường T, tỉnh Vĩnh Long) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM 986313 cấp ngày 19/9/2023 cho bà Phạm Thị H đứng tên.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của đồng bị đơn bà Phạm Thị T1 và ông Thạch Hoàng D:
Giao toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất số 170 nêu trên cho bà Phạm Thị H được tiếp tục quản lý sử dụng, tài sản trên đất bao gồm:
- Nền láng xi măng, có bó nền, diện tích 66,5m²;
- Nhà cột kèo gỗ tạp, mái tol, diện tích 29,4m²;
- 01 bức tường xây gạch ống, tô 01 mặt, diện tích 10,29m²;
- 01 bức tường xây gạch ống, tô 02 mặt, diện tích 9,62m²;
- 01 bức tường xây gạch ống, tô 02 mặt, diện tích 10,29m²;
- 01 bức tường xây gạch ống, tô 01 mặt (01 phần là bức tường phía trên của bức tường giáp thửa 169, tính từ đường bê tông vào và 01 phần là bức tường ở phía sau hàng rào lưới B40, diện tích 18,27m²;
- 01 hàng rào lưới B40 xây gạch lửng, diện tích 12,5m²;
- 01 mái hiên, kết cấu đỡ bằng thép, mái lợp tol, diện tích 23,22m²;
(Các tài sản được thể hiện cụ thể trong Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 19/3/2025).
Buộc bà Phạm Thị H có nghĩa vụ phải hoàn trả lại cho bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D giá trị tài sản mà bà T1, ông D đầu tư, tôn tạo, gìn giữ đối với thửa đất tranh chấp với số tiền 29.276.550 đồng (bằng chữ: hai mươi chín triệu hai trăm bảy mươi sáu nghìn năm trăm năm mươi đồng) và tiền hỗ trợ di dời, công sức gìn giữ đất với số tiền 5.000.000 đồng (bằng chữ: năm triệu đồng).
- Về quyền lưu cư: Cho bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D, chị Thạch T2, anh Thạch Hoàng N được quyền lưu cư trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về tiền lãi chậm thi hành án, chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và quyền thi hành án của các đương sự.
Ngày 03/9/2025, ông Lâm Khắc S là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị H có đơn kháng cáo. Nội dung kháng cáo gồm bà H chỉ đồng ý cho bà T1, ông D, anh N, chị T2 lưu cư trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và không đồng ý hỗ trợ tiền di dời, công sức gìn giữ đất 5.000.000 đồng, đề nghị Tòa cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Cùng ngày, bị đơn bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa cấp phúc thẩm chấp nhận số tiền di dời và công sức gìn giữ đất là 10.000.000 đồng, chấp nhận thời gian cho lưu cư là 06 tháng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn bà Phạm Thị T1 và ông Thạch Hoàng D1 cùng thống nhất trình bày thay đổi yêu cầu kháng cáo, yêu cầu Tòa cấp phúc thẩm chấp nhận số tiền di dời và công sức gìn giữ đất là 20.000.000 đồng và chấp nhận thời gian cho lưu cư là 06 tháng.
Ông Lâm Khắc S là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị H trình bày giữ nguyên kháng cáo, không đồng ý hỗ trợ tiền di dời và công sức gìn giữ đất 5.000.000 đồng, chỉ đồng ý cho lưu cư trong thời hạn 01 tháng; không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng.
- Về nội dung: Căn cứ quy định khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn; sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không buộc bà Phạm Thị H hỗ trợ tiền di dời và công sức gìn giữ đất số tiền 5.000.000 đồng; ghi nhận bà Phạm Thị H đồng ý cho bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D, chị Thạch T2, anh Thạch Hoàng N lưu cư trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn, bị đơn kháng cáo, đã thực hiện thủ tục kháng cáo hợp lệ và trong thời hạn luật định nên yêu cầu kháng cáo được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên toà phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thạch Hoàng N vắng mặt không có lý do chính đáng, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên căn cứ quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh N.
[2] Về nội dung:
[2.1] Các bên đương sự thống nhất bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D và các con là chị Thạch T2, anh Thạch Hoàng N sẽ di dời trả lại cho bà Phạm Thị H quyền sử dụng đất có diện tích 66,5m² thuộc thửa đất số 170, tờ bản đồ số 18, tọa lạc phường T, tỉnh Vĩnh Long; giao các tài sản gắn liền với đất tranh chấp theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 19/3/2025 của Tòa án cho bà H tiếp tục sử dụng; ngược lại, bà H đồng ý hoàn lại cho bà T1, ông D giá trị tài sản đã đầu tư, tôn tạo, gìn giữ trên thửa đất tranh chấp với số tiền 29.276.550 đồng. Các bên đương sự không có kháng cáo đối với nội dung nêu trên nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[2.2] Xét các kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Theo đơn kháng cáo, các đồng bị đơn yêu cầu bà H hỗ trợ chi phí di dời và công sức gìn giữ tài sản số tiền 10.000.000 đồng do cho rằng bị đơn có công sức gìn giữ tài sản, cải tạo làm tăng giá trị đất. Tại phiên toà phúc thẩm, các đồng bị đơn thay đổi yêu cầu kháng cáo yêu cầu bà H hỗ trợ chi phí di dời và công sức gìn giữ tài sản số tiền 20.000.000 đồng. Xét mức yêu cầu hỗ trợ 20.000.000 đồng vượt quá phạm vi yêu cầu kháng cáo ban đầu nên Hội đồng xét xử không xem xét theo quy định tại khoản 2 Điều 284 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Xét mức yêu cầu hỗ trợ 10.000.000 đồng thì phía người đại diện của bà H không đồng ý. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H cho rằng gia đình bà T1, ông D tự ý lấn chiếm đất của bà, ngược lại bà T1, ông D xác định đất do bà H nhờ ông bà trông coi do bà H không ở tại đất. Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên toà sơ thẩm người đại diện của bà H thừa nhận rằng sau khi bà H biết được việc xây cất của bà T1, ông D thì bà cũng đồng ý cho gia đình bà T1 tiếp tục ở và quản lý, sử dụng thửa đất, mặc dù vậy bà T1, ông D chỉ trình bày mà không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc bà H nhờ gia đình bà T1 trông coi đất, quá trình quản lý đất các bị đơn đã được hưởng lợi trên đất trong thời gian dài, các bên thống nhất tài sản gắn liền với đất giao cho bà H tiếp tục sử dụng, bà H hoàn lại cho bà T1, ông D giá trị tài sản đã đầu tư, tôn tạo, gìn giữ trên thửa đất tranh chấp với số tiền 29.276.550 đồng nên các bị đơn không có thiệt hại về tài sản trên đất. Qua đó, xét việc bà T1, ông D và các con không phải di dời tài sản gắn liền trên đất, việc di dời vật dụng của gia đình để trả lại quyền sử dụng đất cho bà H là nghĩa vụ tất yếu và không cần chi phí nhiều đến mức yêu cầu 10.000.000 đồng. Do đó, việc bị đơn yêu cầu số tiền chi phí di dời, công sức gìn giữ đất 10.000.000 đồng là không có căn cứ. Tại phiên toà sơ thẩm, người đại diện của nguyên đơn trình bày bà H đồng ý hỗ trợ cho bị đơn số tiền chi phí di dời nhưng ở mức hợp lý và để Hội đồng xét xử quyết định, điều này mang tính nhân văn, không trái với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử nhận thấy mức chi phí hỗ trợ di dời và công sức gìn giữ đất với số tiền 5.000.000 đồng là hợp lý. Toà sơ thẩm buộc bà H có nghĩa vụ hỗ trợ cho bà T1, ông D số tiền 5.000.000 đồng là có căn cứ.
- Về thời gian lưu cư: Bà T1, ông D, chị T2 thống nhất trình bày các đương sự có căn nhà trên thửa đất giáp ranh với thửa đất tranh chấp nhưng nhà này đang bị phát mãi để thực hiện nghĩa vụ thi hành án cho nguyên đơn trong một vụ án khác nên gia đình bà T1 gặp khó khăn về nhà ở, cần thời gian để tìm chỗ ở khác do đó có yêu cầu lưu cư tại phần đất tranh chấp trong 06 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Người đại diện của bà H không đồng ý với yêu cầu về thời hạn lưu cư của bị đơn mà chỉ đồng ý cho lưu cư trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù các tài sản gắn liền với thửa đất 170 được giao lại cho nguyên đơn, quy định pháp luật không bắt buộc phải cho lưu cư trong quan hệ tranh chấp này, tuy nhiên để tạo điều kiện cho các bị đơn tìm được chỗ ở khác và di dời chỗ ở mà không làm ảnh hưởng nhiều đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn thì Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét quyền lưu cư cho các đồng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thời hạn 03 tháng là phù hợp. Nhận định của Toà cấp sơ thẩm là có cơ sở.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn không có cơ sở, các đương sự không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Do bị đơn bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định nên Hội đồng xét xử điều chỉnh lại án phí sơ thẩm cho phù hợp, miễn án phí sơ thẩm đối với bà T1, ông D.
[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, do nguyên đơn, bị đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị H và bị đơn bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2025/DS-ST ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long.
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 157, 158, 165, 166, 177, 227, 228, 266, 267, 271, 273, 278, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 166, 259, 262, 265, 266, 494, 496, 499 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 Luật Đất đai năm 2024; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị H.
Buộc bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D, chị Thạch T2, anh Thạch Hoàng N có nghĩa vụ di dời toàn bộ vật dụng cá nhân đi nơi khác và giao trả lại quyền sử dụng đất cho bà Phạm Thị H có diện tích 66,5m² thuộc thửa đất số 170, tờ bản đồ số 18, đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại khóm H, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay là khóm A, phường T, tỉnh Vĩnh Long) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM 986313 cấp ngày 19/9/2023 cho bà Phạm Thị H đứng tên.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D:
2.1. Giao toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất số 170, tờ bản đồ số 18 nêu trên cho bà Phạm Thị H được tiếp tục quản lý, sử dụng, các tài sản bao gồm:
- Nền láng xi măng, có bó nền, diện tích 66,5m²;
- Nhà cột kèo gỗ tạp, mái tol, diện tích 29,4m²;
- 01 bức tường xây gạch ống, tô 01 mặt, diện tích 10,29m²;
- 01 bức tường xây gạch ống, tô 02 mặt, diện tích 9,62m²;
- 01 bức tường xây gạch ống, tô 02 mặt, diện tích 10,29m²;
- 01 bức tường xây gạch ống, tô 01 mặt (01 phần là bức tường phía trên của bức tường giáp thửa 169, tính từ đường bê tông vào và 01 phần là bức tường ở phía sau hàng rào lưới B40, diện tích 18,27m²;
- 01 hàng rào lưới B40 xây gạch lửng, diện tích 12,5m²;
- 01 mái hiên, kết cấu đỡ bằng thép, mái lợp tol, diện tích 23,22m².
(Các tài sản được thể hiện cụ thể trong Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 19/3/2025).
2.2. Buộc bà Phạm Thị H phải có nghĩa vụ hoàn trả giá trị tài sản trên đất thửa số 170, tờ bản đồ số 18 nêu trên cho bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D do bà T1, ông D đã đầu tư, tôn tạo, gìn giữ với số tiền là 29.276.550đ (hai mươi chín triệu hai trăm bảy mươi sáu nghìn năm trăm năm mươi đồng) và tiền hỗ trợ di dời, công sức gìn giữ với số tiền là 5.000.000đ (năm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về quyền lưu cư: Cho bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D, chị Thạch T2, anh Thạch Hoàng N được quyền lưu cư tại thửa đất số 170, tờ bản đồ số 18 nêu trên trong thời hạn 03 (ba) tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Phạm Thị H là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí.
Bị đơn bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D phải liên đới chịu án phí không có giá ngạch là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Tuy nhiên, do bà T1, ông D là người cao tuổi nên được miễn án phí số tiền trên.
Hoàn trả lại cho bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.000.000đ (một triệu đồng) theo biên lai thu số 0001511 ngày 17/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - Vĩnh Long).
- Về chi phí tố tụng khác: Đã chỉ cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và lệ phí yêu cầu cung cấp thông tin với tổng số tiền là 2.288.817đ (hai triệu hai trăm tám mươi tám nghìn tám trăm mười bảy đồng).
Buộc bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D phải liên đới chịu toàn bộ số tiền chi phí tố tụng 2.288.817đ (hai triệu hai trăm tám mươi tám nghìn tám trăm mười bảy đồng). Do bà Phạm Thị H đã nộp tạm ứng số tiền chi phí tố tụng là 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) theo Phiếu thu ngày 18/3/2025, nên buộc bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D phải liên đới trả lại cho bà Phạm Thị H số tiền chi phí tố tụng là 2.288.817đ (hai triệu hai trăm tám mươi tám nghìn tám trăm mười bảy đồng). Bà Phạm Thị H được nhận lại số tiền tạm ứng chi phí tố tụng còn dư là 12.711.183đ (mười hai triệu bảy trăm mười một nghìn một trăm tám mươi ba đồng) tại bộ phận Thủ quỹ của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long khi bản án đã có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Phạm Thị H và bị đơn bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D phải chịu án phí mỗi người là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Tuy nhiên, do bà H, bà T1, ông D là người cao tuổi nên được miễn án phí số tiền trên.
Bà Phạm Thị H được miễn nộp tạm ứng án phí. Hoàn trả lại cho bà Phạm Thị T1, ông Thạch Hoàng D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002588 ngày 09/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Đức |
Bản án số 97/2026/DS-PT ngày 28/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời tài sản
- Số bản án: 97/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
