Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1

TỈNH AN GIANG

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

***

Bản án số: 96A/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 22/12/2025

V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Đức Luân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Mỹ

2. Bà Chung Kim Sang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Mai Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh An Giang.

Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 233/2025/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Ngọc L, sinh năm 1975 (có mặt).

HKTT: số 174/8/4, đường N, phường R, tỉnh An Giang.

Chỗ ở hiện nay: tổ H, đường V, khu phố R, phường R, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Khánh S, sinh năm 1975 (có mặt).

HKTT: số 174/8/4, đường N, phường R, tỉnh An Giang.

Chỗ ở hiện nay: tổ H, đường V, khu phố R, phường R, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/8/2025 và lời khai trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn – bà Phan Ngọc L trình bày: Bà và ông Nguyễn Khánh S tự quen biết, yêu thương nhau, không tổ chức lễ cưới, hai người bắt đầu chung sống từ năm 1999 nhưng không có đăng ký kết hôn.

Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau này hai người thường xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cách sống, bà L cho rằng ông S ngoại tình, đã có người phụ nữ khác, bà đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông S không thay đổi, hai người sống ly thân từ tháng 11/2024 cho đến nay. Cảm thấy không thể sống chung với nhau được nữa nên bà yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà với ông S.

- Về con chung: Có 01 người con chung tên Nguyễn Khánh D, sinh ngày 22/12/2003, hiện đã trưởng thành, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Bà L tự nguyện rút yêu cầu chia tài sản chung, bà L xác định tự thỏa thuận với ông S, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà L cam kết ly hôn không nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ về tài sản và nợ đối với người khác.

- Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn – ông Nguyễn Khánh S trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà L về quan hệ hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn, thời điểm ly thân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Nay ông yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông với bà L; về con chung: con đã trường thành nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Nguyên đơn – bà Phan Ngọc L yêu cầu ly hôn đối với bị đơn – ông Nguyễn Khánh S nhưng chưa đăng ký kết hôn nên quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên là “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Các đương sự tranh chấp về quan hệ hôn nhân, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là phường R, tỉnh An Giang). Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án ngày 25/6/2025, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh An Giang.

Về nội dung vụ án:

[1] Xét yêu cầu ly hôn: Bà L và ông S xác định hai người bắt đầu chung sống với nhau từ năm 1999 nhưng không tổ chức lễ cưới, không có đăng ký kết hôn. Như vậy, việc xác lập mối quan hệ hôn nhân trên thực hiện không đúng theo quy định tại Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên quan hệ hôn nhân giữa hai người là không hợp pháp. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm c khoản 3 Nghị quyết số: 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình”, quyết định không công nhận bà L và ông S là vợ chồng.

[2] Về con chung: Có 01 người con chung tên Nguyễn Khánh D, sinh ngày 22/12/2003, hiện đã trưởng thành, bà L và ông S không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về tài sản chung: Bà L tự nguyện rút yêu cầu chia tài sản chung, bà L xác định tự thỏa thuận với ông S, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn, không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, do đó Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ một phần đối với yêu cầu này.

[4] Về nợ chung: Bà L và ông S xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn – bà Phan Ngọc L.

[5] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn – bà Phan Ngọc L phải chịu nghĩa vụ nộp án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 244, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án ngày 25/6/2025;

- Áp dụng khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

- Áp dụng điểm c khoản 3 Nghị quyết số: 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình”;

- Áp dụng điểm a khoản 5 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không công nhận bà Phan Ngọc L và ông Nguyễn Khánh S là vợ chồng.

- Về con chung: Đã trưởng thành, bà L và ông S không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

- Về tài sản chung: Đình chỉ một phần đối với yêu cầu chia tài sản chung của bà L. Do bà L và ông S tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

- Về nợ chung: Bà L và ông S xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

2. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn – bà Phan Ngọc L phải chịu nghĩa vụ nộp số tiền án phí 300.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 1.550.000 đồng mà bà L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003527, ngày 08/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh An Giang, nên bà L được hoàn lại số tiền 1.250.000 đồng (một triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng).

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND khu vực 1, tỉnh An Giang;
  • - Phòng THADS khu vực 1, tỉnh An Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Đào Đức Luân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96A/2025/HNGĐ-ST ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 96A/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger