Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96 /2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 23/12/2025

V/v tranh chấp HNGĐ - Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trí; Ông Huỳnh Văn Dứt.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hồng Duyên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang: Không tham gia.

Ngày 23 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2025, về việc “tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 336/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Lê Như N, sinh ngày 01/9/1989, CCCD: 089189014627; địa chỉ: C tổ A ấp L, xã A, tỉnh An Giang. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Phan Tấn T, sinh ngày 12/7/1986; địa chỉ: D tổ A ấp Đ, xã C, tỉnh An Giang. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà N trình bày: bà và ông Phan Tấn T kết hôn năm 2018, có tổ chức lễ cưới có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống tại nhà bên chồng sau đó bà đi làm tại Bình Dương 1 đến 2 tuần về nhà 1 lần đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm do bà đi làm ở Bình Dương; thời gian này dịch bệnh ông T đem con đến kêu tôi về bên ngoại sống; nên bà mới đem con về sống với cha mẹ ruột tại xã C, tỉnh An Giang đến nay. Trong thời gian này hai bên không gặp nhau để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nhận thấy tình cảm không còn, yêu cầu được ly hôn với ông Phan Tấn T.

- Về con chung: có 01 con chung tên Phan Trường P, sinh ngày 18/7/2020, hiện bà đang chăm sóc nuôi dưỡng, khi ly hôn yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Trung cấp D nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Phan Tấn T trình bày: Vợ chồng kết hôn vào năm 2018 sau khi kết hôn thì vợ bỏ đi làm ở Bình Dương vài mới tháng mới về nhà một lần. Ông sinh sống cùng với cha mẹ ruột, khi vợ chồng có con chung thì do ông trực tiếp nuôi dưỡng vợ thì vẫn đi làm ở Bình Dương, nên đến khoảng cuối năm 2023 thì ông có kêu vợ về nhà chung sống nhưng vợ không về lúc đó khi nóng giận ông có kêu vợ nếu không về thì ông đem con trả về bên ngoại nuôi dưỡng; khi đó vợ có về và đem con về bên ngoại nuôi cho đến nay. Sau đó, ông có đến xin lỗi vợ để về chung sống lại nhưng vợ không đồng ý. Nay không đồng ý ly hôn, nếu vợ cương quyết xin ly hôn ông đồng ý nhưng yêu cầu được nuôi con. Vì vợ chồng có 01 con chung tên Phan Trường P, sinh ngày 18/7/2020, hiện đang sinh sống với bà N.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn có nơi cư trú tại xã C, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân khu vực 11 thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2].Về nội dung tranh chấp: Bà N và ông T kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện C nên quan hệ hôn nhân giữa được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo bà N trình bày, vợ chồng chung sống đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm không tôn trọng nhau bà đi làm ở Bình Dương; do thời gian này dịch bệnh bà không về được ông T đem con đến kêu tôi về bên ngoại sống; nên bà mới đem con về chung sống với cha mẹ cho đến nay. Ông T trình bày do khi vợ chồng có con chung thì ông vẫn trực tiếp nuôi dưỡng vợ thì vẫn đi làm ở Bình Dương không về, nên đến khoảng cuối năm 2023 thì ông có kêu vợ về nhà chung sống nhưng vợ không về lúc đó khi nóng giận ông có kêu vợ nếu không về thì ông đem con trả về bên ngoại nuôi dưỡng; hiện vẫn còn thương vợ không đồng ý ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà N và ông Trung nguyên N1 do trong cách cư xử của vợ chồng cả hai không thống nhất được chỗ ở chung, bà N đi làm xa, ông T với gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, vợ chồng sống ly thân trong thời gian dài. Trong thời gian này, ông T có đến xin lỗi nhưng bà N không đồng ý, bà N xin ly hôn ông T chỉ đồng ý ly hôn với điều kiện giao con chung cho ông nuôi dưỡng. Cho thấy ông T cũng không còn tình cảm với bà N, cả hai bên cũng không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng, không ai quan tâm đến nhau. Vì vậy, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của và N xin ly hôn ông T.

[3] Về quan hệ con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Phan Trường P, sinh ngày 18/7/2020, hiện con chung đang sinh sống với bà N, khi ly hôn bà N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi con chung, không yêu cầu ông Trung cấp D nuôi con. Hiện bà đang làm công nhân tại công ty M tại T - Bình Dương; lương bình quân mỗi tháng từ 15 đến 20 triệu 1 tháng đủ để nuôi con.

Ông T yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hiện đang làm nghề điêu khắc gỗ, đá, thạch cao... nhận làm tại nhà hoặc ai thuê thì sẽ đi làm thu nhập bình quân mỗi tháng từ 10 đến 20 triệu đủ để nuôi con.

Xét thấy con chung do bà N nuôi dưỡng sau khi vợ chồng không còn chung sống cho đến nay, cháu P vẫn phát triển bình thường, điều kiện sinh hoạt ổn định nếu thay đổi sẽ ảnh hưởng tâm lý cháu. Vì vậy, nghĩ nên giao con chung cho bà N nuôi dưỡng ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

[5] Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà N phải chịu là 300.000₫.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 53; 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Lê Như N xin ly hôn ông Phan Tấn T.

Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Lê Như N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Phan Trường P, sinh ngày 18/7/2020; ông Phan Tấn T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về quan hệ tài sản chung: các bên không yêu cầu giải quyết.

Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc bà N ông T xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì bà N, ông T phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, bà Nguyễn Lê Như N phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0002603 do Thi hành án dân sự tỉnh An Giang cấp ngày 30/9/2025.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Phòng THADS khu vực 11;
  • - VKSND khu vực 11;
  • - UBND xã An Châu, tỉnh An Giang.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HNGĐ-ST ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hngđ - ly hôn

  • Số bản án: 96/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HNGĐ - Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn xin ly hôn vì tình cảm không còn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger