Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2025/HS-ST

Ngày: 31-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đức Thiện

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Cao Văn Truyện
  • Ông Lê Văn Bút

Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Quỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Đà Nẵng, Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 73/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2025, đối với:

+ Bị cáo: Phạm Tấn D, tên gọi khác: không; sinh ngày: 06/7/1991 tại thành phố Đà Nẵng; Căn cước công dân số: 048091002078; cấp ngày 12/06/2024, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi thường trú và chỗ ở: K44/11 Đ, tổ B, phường H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm C (sinh năm 1966) và bà Đặng Thị L (sinh năm 1966); Vợ: Nguyễn Thị Thúy H (sinh năm 1992, đã ly hôn); con: 01 con sinh năm 2018.

Tiền án:

  • - Ngày 15/8/2014, bị Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 05 (năm) năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 158/2014/HS-PT (chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/12/2016).
  • - Ngày 28/02/2018, bị Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 14/2018/HS-ST (chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/6/2024).

Tiền sự: Ngày 10/01/2025 bị Công an phường H, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo Quyết định số 12/QĐ-XPHC (ngày 24/6/2025 đã chấp hành xong).

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 02/8/2025; tạm giữ ngày 02/8/2025; tạm giam ngày 11/8/2025, hiện đang bị giam tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố Đ, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 30/7/2025, Phạm Tấn D liên hệ qua ứng dụng Messenger với một người tên “Kiệt” (chưa rõ nhân thân lai lịch) để hỏi mua 01 gói ma túy dạng Ketamine và 03 viên ma túy dạng thuốc lắc thì được “K” báo giá gói ma túy Ketamine là 1.800.000 đồng còn 03 viên ma túy thuốc lắc là 450.000 đồng, tổng cộng là 2.250.000 đồng và nói Dự đến khu vực Bến xe trung tâm Đ giao dịch mua bán ma túy, D đồng ý. Sau đó, D điều khiển xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát 43AF-057.58 đi theo chỉ dẫn của “Kiệt” đến tại ví trí một gốc trụ điện (không nhớ rõ địa chỉ cụ thể) tại khu vực phía sau Bến xe trung tâm Đà Nẵng lấy 01 vỏ bao thuốc lá bên trong có 01 gói ma túy dạng Ketamine và 03 viên ma túy dạng thuốc lắc rồi để tiền lại vị trí đó cho “K”. Dự mang số ma túy mua được đem về nhà tại đường Đ, tổ B, phường H, thành phố Đà Nẵng cất giấu nhằm mục đích sử dụng khi cần, đồng thời K xóa hết lịch sử liên lạc với “Kiệt”.

Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 02/8/2025, D cất giấu số ma túy nói trên vào trong túi quần bên trái rồi điều khiển xe mô tô hiệu Honda AirBlade biển kiểm soát 43AF-057.58 đi tìm địa điểm để sử dụng. Khi D đến trước số nhà D đường Đ, tổ B, phường H, TP . thì bị lực lượng phòng chống ma túy thuộc bộ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ bên trong túi quần bên trái mà D đang 01 (một) gói nilon màu trắng (kích thước khoảng 04cm x 3,6cm), bên trong chứa chất bột màu trắng và 01 (một) gói nilon màu trắng (kích thước 04cm x 4,2cm), bên trong chứa 03 (ba) viên nén màu xám (Tất cả được niêm phong ký hiệu M1) và các tang vật khác có liên quan.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của D tại số nhà D đường Đ, tổ B, phường H, thành phố Đà Nẵng không phát hiện, thu giữ gì thêm.

Tiến hành kiểm tra điện thoại, không phát hiện cuộc gọi, tin nhắn nào khác liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Phạm Tấn D có kết quả âm tính với chất ma túy.

Kết luận giám định số 639/KL-KTHS ngày 07/8/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an T xác định: “...- Các viên nén màu xám kí hiệu M1a gửi giám định là ma túy, loại MDMA, Ketamine; khối lượng mẫu M1a: 1,116 gam.

- Chất bột màu trắng ký hiệu M1b gửi giám định là ma túy, loại Ketamine; khối lượng mẫu M1b: 1,747 gam”.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu trắng, biển kiểm soát 43AF-057.58 số khung: RLHJF4618EY310190, số máy: JF46E5010217 (do Phạm Tấn D đứng tên chủ sử hữu);
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI 1: 353965103817265, số IMEI 2: 353965103756307, gắn sim số: 0934.960.609 (là điện thoại của D dùng để liên hệ mua ma túy);
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI 1: 356487141332915, số IMEI 2: 356487141150028, gắn sim số: 0934.060.791 (điện thoại của D dùng để sử dụng cá nhân).
  • - Số tiền: 5.408.000 đồng (là tài sản cá nhân của D).
  • - Ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì giấy ngày 07/8/2025, có đóng dấu giáp lai của Phòng kĩ thuật hình sự, Công an thành phố Đ.

Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 25 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng truy tố Phạm Tấn D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Tấn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố là đúng.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Tấn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025 xử phạt bị cáo Phạm Tấn D từ 06 đến 07 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

  • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
    • - 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu trắng, biển kiểm soát 43AF-057.58 số khung: RLHJF4618EY310190, số máy: JF46E5010217 (do Phạm Tấn D đứng tên chủ sử hữu);
    • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI 1: 353965103817265, số IMEI 2: 353965103756307, gắn sim số: 0934.960.609 (là điện thoại của D dùng để liên hệ mua ma túy);
  • + Trả lại cho bị cáo Phạm Tấn D:
    • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI 1: 356487141332915, số IMEI 2: 356487141150028, gắn sim số: 0934.060.791 (điện thoại của D dùng để sử dụng cá nhân).
    • - Số tiền: 5.408.000 đồng (là tài sản cá nhân của D).
  • + Tịch thu tiêu huỷ: Ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì giấy ngày 07/8/2025, có đóng dấu giáp lai của Phòng K1, Công an thành phố Đ.

Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Tấn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Phạm Tấn D không có ý kiến tranh luận, đối đáp gì với vị đại diện Viện kiểm sát.

- Bị cáo Phạm Tấn D nói lời sau cùng: Thưa Hội đồng xét xử, bị cáo đã nhận thực được hành vi phạm tội của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo một mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình nuôi dạy con cái.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo, lời khai của người chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 02/8/2025, tại trước số nhà D đường Đ, tổ B, phường H, thành phố Đà Nẵng, Phạm Tấn D có hành vi tang trữ trái phép chất ma tuý thì bị lực lượng Phòng, chống ma túy và tội phạm Đồn Biên phòng H1 thuộc Bộ 1, thành phố Đà Nẵng phát hiện, bắt quả tang, thu giữ.

Tại Kết luận giám định số 639/KL-KTHS ngày 07/8/2025 của Phòng K1, Công an thành phố Đ xác định: “...- Các viên nén màu xám kí hiệu M1a gửi giám định là ma túy, loại MDMA, Ketamine; khối lượng mẫu M1a: 1,116 gam.

- Chất bột màu trắng ký hiệu M1b gửi giám định là ma túy, loại Ketamine; khối lượng mẫu M1b: 1,747 gam”.

Tổng khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ là 2,863 gam ma túy loại MDMA và Ketamine.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội; bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua ma tuý để sử dụng là hành vi vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma tuý của bản thân. Bị cáo Phạm Tấn D đã bị kết án thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

Hành vi của bị cáo Phạm Tấn D đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 25/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Nhân thân của bị cáo xấu, đã nhiều lần bị kết án và chưa được xoá án tích; bị cáo có tiền sự bị xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” nay lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục để bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm mục đích phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự; gia đình bị cáo có công với cách mạng, ông nội bị cáo là liệt sĩ, bà cố nội của bị cáo được phong tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam anh hùng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI 1: 353965103817265, IMEI 2: 353965103756307, gắn sim số: 0934.960.609, là điện thoại của D dùng để liên hệ mua ma túy nên cần tịch thu sung vào công quỹ nhà nước;
  • - Đối với số ma tuý hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì giấy có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đ liên quan đến vụ án nên cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - Đối với: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu trắng, biển kiểm soát 43AF-057.58 số khung: RLHJF4618EY310190, số máy: JF46E5010217 (do Phạm Tấn D đứng tên chủ sử hữu); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI 1: 356487141332915, IMEI 2: 356487141150028, gắn sim số: 0934.060.791 (điện thoại của D dùng để sử dụng cá nhân) và số tiền: 5.408.000 đồng (là tài sản cá nhân của D) không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ các tài sản đã trả lại cho bị cáo nêu trên để bảo đảm cho việc thi hành án.

Các vật chứng nêu hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 - Đà Nẵng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/11/2025 giữa đại diện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ với đại diện Phòng thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng và Biên lai thu tiền số 0002747 ngày 03/12/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.

[7] Đối với người tên “Kiệt” có hành vi bán ma túy cho Phạm Tấn D, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên cơ quan Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Đ tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau là có cơ sở.

[8] Xét đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị sung công quỹ nhà nước đối với xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu trắng, biển kiểm soát 43AF-057.58 số khung: RLHJF4618EY310190, số máy: JF46E5010217 do Phạm Tấn D đứng tên chủ sử hữu là không có cơ sở vì chiếc xe mô tô nêu trên không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo Phạm Tấn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Tấn D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

1. Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025.

Tuyên xử:

Xử phạt: Bị cáo Phạm Tấn D 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02 tháng 8 năm 2025.

Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025:

Phạt tiền đối với bị cáo Phạm Tấn D số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tuyên xử:

  • - Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI 1: 353965103817265, số IMEI 2: 353965103756307, gắn sim số: 0934.960.609;
  • - Tịch thu tiêu huỷ: số ma tuý hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong theo Quyết định trưng cầu giám định ngày 03/8/2025, có đóng dấu giáp lai của Phòng K1, có chữ ký của Nguyễn Thị Thu N và Hà Minh T, ký hiệu M1.
  • - Tuyên trả lại cho bị cáo Phạm Tấn D:
    • + 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu trắng, biển kiểm soát 43AF-057.58 số khung: RLHJF4618EY310190, số máy: JF46E5010217 do Phạm Tấn D đứng tên chủ sử hữu.
    • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI 1: 356487141332915, số IMEI 2: 356487141150028, gắn sim số: 0934.060.791;
    • + Số tiền: 5.408.000 đồng.

Các vật chứng nêu trên được lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – Đà Nẵng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/11/2025 giữa đại diện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ với đại diện Phòng thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng và Biên lai thu tiền số 0002747 ngày 03/12/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.

Tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ số tiền và các tài sản trả lại cho bị cáo Phạm Tấn D nêu trên để đảm bảo cho việc thi hành án.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Buộc bị cáo Phạm Tấn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND Khu vực 4 – Đà Nẵng;
  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an TP. Đà Nẵng;
  • - Thi hành án dân sự TP Đà Nẵng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Đức Thiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2025/HS-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 94/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Phạm Tấn D phạm tội : "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger