| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2025/DS-ST | |
| Ngày 24 tháng 12 năm 2025 | |
| Về việc tranh chấp dân sự quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Lê Bảo Trúc; ông Mai Văn Tài;
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 14 - An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Diễm – Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 28/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 416/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 446/2025/QĐST-DS ngày 28/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - An Giang giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ A, ấp G, xã L, huyện T, tỉnh An Giang (nay là tổ A, ấp G, xã V, tỉnh An Giang) (có mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1965; địa chỉ: Tổ A, ấp G, xã L, huyện T, tỉnh An Giang (nay là tổ A, ấp G, xã V, tỉnh An Giang) (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Khoa N, sinh năm 1989; địa chỉ: Khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (nay là khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang); (vắng mặt)
- Bà Lê Thị Thùy D, sinh năm 1989; địa chỉ: Khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (nay là khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang); (vắng mặt)
- Ông Trần Văn H, sinh năm 1930; địa chỉ: Ấp G, xã V, tỉnh An Giang; (vắng mặt);
- Bà Trương Thị D1, sinh năm 1946; địa chỉ: Ấp G, xã V, tỉnh An Giang; (vắng mặt);
- Ông Huỳnh Văn Hậu E, sinh 1984; địa chỉ: Tổ A, ấp G, xã L, huyện T, tỉnh An Giang (nay là tổ A, ấp G, xã V, tỉnh An Giang) (có mặt).
- Bà Trương Thị Ngọc D1, sinh 1982; địa chỉ: Tổ A, ấp G, xã L, huyện T, tỉnh An Giang (nay là tổ A, ấp G, xã V, tỉnh An Giang) (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Như Ý trình bày: Ngày 11 tháng 12 năm 2023, bà Nguyễn Thị Như Ý có lập hợp đồng nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp của ông Trần Khoa N và bà Lê Thị Thùy D với diện tích 8.076m², tọa lạc tại xã L, huyện T, tỉnh An Giang thuộc thửa số 292 tờ bản đồ số 59, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 497713 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 08/04/2022 cho ông Trần Khoa N và bà Lê Thị Thùy D đứng tên, sau đó các bên thực hiện thủ tục hành chính đất đai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Nguyễn Thị Như Ý diện tích 8.076m².
Do cần xác định mốc ranh theo diện tích giấy chứng nhận đất, bà Ý liên hệ cơ quan chức năng đo đạc nhưng ông Trần Văn T ngăn cản không cho đo đất và cho rằng ranh đất bà Ý chỉ mốc ranh không đúng vị trí, diện tích, đo qua phần đất thuộc quyền quản lý của ông T, từ đó phát sinh tranh chấp.
Nay bà Nguyễn Thị Như Ý khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn T trả lại diện tích đất 350m² (ngang 01m x dài 350m). Qua đo đạc, ngày 11 tháng 9 năm 2025, bà Nguyễn Thị Như Ý nộp đơn khởi kiện bổ sung, bản tự khai yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Văn T trả lại phần diện tích đã lấn chiếm sử dụng là 509, 5m² tại các điểm 7, 2, 3, 8 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 23 tháng 7 năm 2025 do Văn phòng Đ chi nhánh khu vực liên xã T lập.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Văn T trình bày: Cha mẹ ông T là ông Trần Văn H và bà Trương Thị D1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 16.594m². Ngày 04/9/2019, ông H, bà D1 tặng cho quyền sử dụng diện tích đất 8.518 m², số thửa 495 cho vợ chồng ông Trần Văn T, bà Trương Thị Ngọc D1, diện tích còn lại là 8.076m², thửa 292, tờ bản đồ 59.
Ngày 16/3/2022, vợ chồng ông H, bà D1 có lập biên nhận giấy tay thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (biên nhận do ông T đứng ra thỏa thuận, ký nhận tiền) cho ông Trần Khoa N diện tích 8.000 m², giá 640.000.000 đồng (80.000.000 đồng/ 1.000m²), sau đó các bên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, có công chứng nhưng diện tích là 8.076m², không có đo đạc, ông N và bà D được chỉnh lý biến động đứng tên quyền sử dụng đất ngày 24/3/2022. Theo ông T trình bày, lý do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ có 01 thửa 292, tờ bản đồ số 59, nên không tách ra diện tích còn dư 76m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích đất ông T sử dụng, canh tác giáp ranh với đất bà Ý nhận chuyển nhượng lại từ ông N, bà D. Khi ông N, bà D chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Ý không có đo đạc, ông T cũng không ký tứ cận cho bà Ý.
Nay bà Ý có yêu cầu ông T trả lại diện tích 509,5m² tại các điểm 7, 2, 3, 8 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 23 tháng 7 năm 2025 do Văn phòng Đ chi nhánh khu vực liên xã T lập, thì ông T không đồng ý, vì ông T không có lấn sang đất của bà Ý, diện tích đất 509, 5m² chưa xác định ranh, trước đây phần đất này là mương nước sử dụng chung, sau đó hai bên là ông T và bà Ý san lắp bằng phẳng, làm thành bờ giả để bơm nước. Ông T yêu cầu bà Ý chỉ đo đúng 8.000m² đã mua, phần đất dư lại vẫn thuộc quyền sử dụng của ông T.
Ông Trần Văn T thống nhất với Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc ngày 04/4/2025, Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 23 tháng 7 năm 2025 do Văn phòng Đ chi nhánh khu vực liên xã T lập và đề nghị Tòa án không tiến hành định giá tài sản tranh chấp do chỉ yêu cầu phía bị đơn trả đất, không yêu cầu bồi hoàn giá trị đất nên không cần phải định giá.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Khoa N và bà Lê Thị Thùy D: Vắng mặt trong suốt quá trình Toà án tiến hành tố tụng nên không ghi nhận được ý kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn H1 Em trình bày, ông là chồng của bà Nguyễn Thị Như Ý, đồng ý với lời trình bày của bà Ý, không có ý kiến nào khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Ngọc D1 có lời khai: Thống nhất ý kiến với ông Trần Văn T.
Theo lời khai ông Trần Văn H và bà Trương Thị D1 trình bày ngày 14 tháng 10 năm 2025: Vợ chồng ông Trần Văn H và bà Trương Thị D1 có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Trần Khoa N và bà Lê Thị Thùy D là 8.000m² đất nông nghiệp, thuộc ấp G, xã V, tỉnh An Giang với số tiền là 80.000.000 đồng/công, thành tiền là 640.000.000 đồng, thuộc thửa đất số 292, tờ bản đồ số 59. Do lớn tuổi, bệnh tật nên xin vắng mặt, tất cả ý kiến thống nhất do ông Trần Văn T đại diện trình bày.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, tự nguyện chịu các khoản chi phí tố tụng đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, không yêu cầu bị đơn hoàn trả chi phí tố tụng.
Bị đơn đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận trả lại quyền sử dụng đất, diện tích 509, 5m² tại các điểm 7, 2, 3, 8 cho nguyên đơn theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh khu vực liên xã T lập ngày 23 tháng 7 năm 2025. Về chi phí tố tụng và án phí yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án, qua kết quả đo đạc tại bản trích đo hiện trạng ngày 23/7/2025 của Văn phòng Đ chi nhánh khu vực liên xã T thể hiện ông T đã lấn sang đất của bà Ý diện tích 509, 5m², do đó yêu cầu khởi kiện của bà Ý là có cơ sở chấp nhận. Tại phiên tòa, ông T đồng ý trả lại diện tích đất tranh chấp diện tích 509, 5m² do ông T đang quản lý, sử dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Như Ý, công nhận sự tự nguyện của ông T trả lại diện tích 509, 5m² tại các điểm 7, 2, 3, 8 theo bản trích đo hiện trạng ngày 23/7/2025 của Văn phòng Đ chi nhánh khu vực liên xã T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng
[1.1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Như Ý khởi kiện bị đơn ông Trần Văn T về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, phần đất tranh chấp tọa lạc xã V, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân khu vực 14 – An Giang thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP, ngày 27/6/2025 hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.
[1.2] Bị đơn ông Trần Văn T không có yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[1.3] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H, bà Trương Thị D1, Trương Thị Ngọc D1 xin xét xử vắng mặt, ông Trần Khoa N và bà Lê Thị Thùy D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H, bà Trương Thị D1, Trương Thị Ngọc D1, ông Trần Khoa N, bà Lê Thị Thùy D.
[2] Về nội dung vụ án
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy các đương sự đều thống nhất với biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc ngày 04 tháng 4 năm 2025 và bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 23/7/2025 của Văn phòng Đ - Chi nhánh khu vực liên xã T.
[2.2] Qua trình bày của các đương sự và xét hỏi công khai tại phiên tòa của Hội đồng xét xử thể hiện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, buộc ông Trần Văn T trả lại quyền sử dụng đất, diện tích 509, 5m² tại các điểm 7, 2, 3, 8 cho nguyên đơn theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh khu vực liên xã T lập ngày 23 tháng 7 năm 2025.
Căn cứ Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định ...” Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung”. Trong vụ án này, các đương sự đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong quá trình sử dụng thì các bên thiếu sự kiểm tra, chưa xác định mốc, ranh liền kề nên đã phát sinh tranh chấp. Theo ông T trình bày, gia đình ông chỉ chuyển nhượng 8.000 m² nhưng bà Ý lại đứng tên 8.076m² là dôi dư diện tích 76 m². Theo bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 23/7/2025 của Văn phòng Đ - Chi nhánh khu vực liên xã T, qua đo đạc thực tế thể hiện tại các điểm 7, 2, 3, 8 có diện tích 509,5m² do ông Trần Văn T đang quản lý và sử dụng nằm trong diện tích 8.076m² tại các điểm 1, 7, 2, 3, 8, 4 thuộc thửa số 292, tờ bản đồ số 59 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN08832 ngày 08/012024 cho Nguyễn Thị Như Ý đứng tên.
Do đó, việc bà Nguyễn Thị Như Ý khởi kiện yêu cầu buộc ông Trần Văn T trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm sử dụng 509,5m², tọa lạc tại xã L, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã V, tỉnh An Giang) thuộc thửa số 292, tờ bản đồ số 59, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DN 378588 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 08/01/2024 cho Nguyễn Thị Như Ý là có cơ sở chấp nhận.
Ông T cho rằng yêu cầu khởi kiện của bà Ý là không đúng sự thật, ông T chỉ bán cho ông N diện tích 8.000m² đất, ông T yêu cầu bà Ý chỉ đo đúng 8.000m² phần đất dư lại vẫn thuộc quyền sử dụng của ông T là không có căn cứ xem xét để chấp nhận.
[2.3] Tại phiên tòa, bị đơn ông Trần Văn T thống nhất yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện bị đơn đồng ý trả lại diện tích đất 509,5m², tọa lạc tại xã L, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã V, tỉnh An Giang) thuộc thửa số 292, tờ bản đồ số 59, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DN 378588 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 08/01/2024 cho Nguyễn Thị Như Ý.
[3] Về chi phí tố tụng, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, lẽ ra bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc theo quy định tại Điều 158 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, tuy nhiên, do nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét.
[4] Về án phí, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Về quyền kháng cáo, các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, 158, 227, 228, 244, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Điều 26, 31, 236 Luật Đất đai 2024;
- Điều 166, 175, 176 Bộ luật Dân sự 2015;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Như Ý. Công nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn T trả lại diện tích 509,5m² cho bà Nguyễn Thị Như Ý, Huỳnh Văn H1 Em tại các điểm 7, 2, 3, 8 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 23 tháng 7 năm 2025 do Văn phòng Đ chi nhánh khu vực liên xã T lập, nằm trong diện tích 8.076m², tọa lạc tại xã L, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã V, tỉnh An Giang) thuộc thửa số 292, tờ bản đồ số 59, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DN 378588 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 08/01/2024 cho bà Nguyễn Thị Như Ý.
(Sơ đồ bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 23 tháng 7 năm 2025 do Văn phòng Đ chi nhánh khu vực liên xã T là phần không tách rời Bản án).
[2] Về chi phí tố tụng, bà Nguyễn Thị Như Ý tự nguyện chịu số tiền 3.710.384 (ba triệu bảy trăm mười nghìn ba trăm tám mươi bốn) đồng, gồm chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 800.000 (tám trăm nghìn) đồng và chi phí đo đạc 2.910.384 (hai triệu chín trăm mười nghìn ba trăm tám mươi bốn) đồng.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm, ông Trần Văn T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả tạm ứng án phí cho bà Nguyễn Thị Như Ý theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0013028 ngày 12 tháng 02 năm 2025 số tiền 300.000 đồng của Chi cục Thi hành án Dân sự Tri Tôn, nay là Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Ngọc Hà |
Bản án số 93/2025/DS-ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 93/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Như Ý - Trần Văn T - Tranh chấp quyền sử dụng đất
