Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG

Bản án số: 92/2025/HS-ST

Ngày 22-12-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Chung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Dung;

Bà Bùi Thị Nhàn.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2025/TLST-HS, ngày 21 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2025/QĐXXST-HS, ngày 20 tháng 11 năm 2025; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 55/TB-TA, ngày 03 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2025/HSST-QĐ, ngày 11 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn T, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1985, tại Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng). Nơi cư trú: Thôn H, xã N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Trần Thị T1; chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị T2 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/8/2025 - Có mặt.
  2. Vũ Văn N1, sinh ngày 13 tháng 11 năm 2003, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn C và bà Ngô Thị L; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/8/2025 - Có mặt.

- Bị hại: Chị Đỗ Thị P, sinh năm 2003, nơi cư trú: Thôn C, xã Q, thành phố Hải Phòng - Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Mạnh K, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn L, xã Q, thành phố Hải Phòng - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 17/5/2025, Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô trộn bê tông Biển kiểm soát 15C-252.72 đi trên Quốc lộ A theo hướng từ Hải Phòng đi Thái Bình (nay là Hưng Yên), trên xe có anh Nguyễn Văn T3 ngồi ở ghế phụ. Khi xuống dốc cầu vượt B49 đoạn Km 37+700 thuộc địa phận thôn C, xã Q, huyện A (nay là xã A, thành phố Hải Phòng), T bật đèn xi nhan rồi cho xe chuyển hướng sang trái để vào quán cơm thì va chạm với xe mô tô Biển kiểm soát 15D1-262.76 do Vũ Văn N1 điều khiển chở chị Đỗ Thị P, sinh năm 2003, trú tại thôn C, xã T, huyện T (nay là Thôn C, xã Q, thành phố Hải Phòng) đi chiều ngược lại Thái Bình - Hải Phòng, làm xe của N1 lao sang đường của xe ngược chiều va vào xe ô tô Biển kiểm soát 15K.226.71 do anh Trần Mạnh K, sinh năm 1987, trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện T (nay là Thôn L, xã Q) thành phố Hải Phòng điều khiển. Hậu quả vụ tai nạn làm chị P và N1 bị thương được đưa đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện; xe mô tô Biển kiểm soát 15D1-262.76 và xe ô tô Biển kiểm soát 15K.226.71 bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường, xác định: Hiện trường vụ tai nạn giao thông tại cuối dốc cầu vượt B49 đoạn Km 37+700 Quốc lộ A thuộc thôn C, xã Q, huyện A (nay là xã A, thành phố Hải Phòng). Mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, có 02 chiều đường, mỗi chiều gồm 02 làn đường được phân định bằng vạch sơn trắng liền nét, độ rộng các làn tính từ tim đường vào lề đường lần lượt là: 3,625 mét và 1,6 mét. Lấy cột biển báo “Đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng” lề đường bên phải và mép đường bên phải chiều Hải Phòng đi Thái Bình làm mốc và mép đường chuẩn. Xe ô tô Biển kiểm soát 15K-226.71 đỗ trên mặt đường chiều Hải Phòng đi Thái Bình, khoảng cách từ tâm bánh trước bên phải và tâm bánh sau bên phải lần lượt cách mép đường chuẩn là 3,1 mét và 3,3 mét, từ tâm bánh sau bên phải đến điểm mốc là 50 mét. Trước đầu xe ô tô 15K-226.71 có dấu vết màu đỏ nghi máu, kích thước trong diện (0,4 x 0,5) mét, tâm dấu vết cách mép đường chuẩn 3,3 mét. Trên mặt đường chiều Thái Bình đi Hải Phòng, xe mô tô Biển kiểm soát 15D1-262.76 đổ nghiêng bên phải đầu xe hướng Hải Phòng, khoảng cách từ trục bánh trước và trục bánh sau lần lượt cách mép đường chuẩn là 6,0 mét và 7,2 mét.

Khám nghiệm các phương tiện: Xe ô tô Huyndai Accent màu đỏ Biển kiểm soát 15K-216.71, nắp capo bị bóp méo diện 46×26cm, nắp capo và ốp trái kính chắn gió trái có dấu vết trượt bám dính tạp chất màu đen không liên tục kích thước 110×12cm; mặt ngoài cản trước bên trái, ốp tai xe bên trái, cánh cửa trước bên trái có đám dấu vết bẹp lõm, trượt xước, mất sơn. Xe mô tô Biển kiểm soát 15D1-262.76 hốc nhựa đầu xe bị trượt lớp sơn màu đen, cụm đèn pha bị bung bật khỏi vị trí ban đầu kích thước 35×25cm, đầu ngoài tay lái bên phải bị trượt xước nhựa kích thước 02×02cm, đầu ngoài tay lái bên phải trượt xước nhựa kích thước 15×5cm, yếm phải bị rơi mất. Cạnh trái mặt nạ trượt xước lớp sơn màu đen, bám dính tạp chất màu đỏ dạng sơn, kích thước 20×6cm. Xe ô tô Biển kiểm soát 15C-252.72 mặt trước và mặt trên góc cản sau bên phải có đám dấu vết xước mất bụi đất, bột bê tông, bề mặt bám dính tạp chất màu xanh dạng sơn kích thước 17,5×18,5cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 40cm; mặt bên phải phía sau cản trước bên phải có đám dấu vết xước kim loại, mất bụi bùn đất, bám dính tạp chất màu xanh dạng sơn kích thước 10×0,5cm, chiều hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất cách mặt đất 40cm.

Kết quả xét nghiệm ngày 17/5/2025 của Bệnh viện K1 thể hiện: Vũ Văn N1 có nồng độ cồn trong máu là 0mg/dL, âm tính với các chất ma túy. Kết quả xét nghiệm ngày 19/5/2025 của Bệnh viện A thể hiện: Nguyễn Văn T có nồng độ cồn trong máu là 1,3mg/dL (trị số bình thường), âm tính với các chất ma túy.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 355/2025/KLTgTHS-TTPYHP ngày 04/7/2025 của Trung tâm Pháp y thành phố H, kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Thị P qua hồ sơ là: 67%. Các thương tích trên có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày, có thể có góc cạnh cứng gây nên”.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 381/2025/KLTgTHS-TTPYHP ngày 14/7/2025 của Trung tâm Pháp y thành phố H, kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Văn N1 qua hồ sơ là: 21%. Các thương tích trên có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày gây nên”.

Kết luận định giá tài sản số 11/KL-ĐG ngày 13/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, kết luận: “Giá trị tài sản thiệt hại của xe mô tô Biển số 15D1-262.76 là 3.000.000 đồng. Giá trị tài sản thiệt hại của xe ô tô Biển số 15K-226.71 là 30.065.000 đồng”.

Kết luận giám định số 1783/KL-KTHS ngày 21/6/2025 của Phòng K2, Công an thành phố H, kết luận:

“1. a) Dấu vết trượt xước kim loại, mất bụi đất và vữa bê tông khô (màu nâu), bề mặt bám dính tạp chất màu xanh và màu đen (dạng sơn) theo chiều từ trước về sau ở mặt trước và cạnh ngoài cản sau bên phải (bên phụ) xe ô tô mang Biển kiểm soát 15C-252.72, phù hợp với dấu vết vỡ khuyết nhựa, hằn trượt xước mất sơn (màu đen) và sơn lót (màu xanh), bám dính tạp chất màu nâu (dạng bụi đất và vữa bê tông khô) theo chiều từ trước về sau ở mặt ngoài bên phải ốp chắn bùn bánh xe phía trước và dấu vết trượt xước kim loại mất sơn (màu đen) theo chiều từ trước về sau ở mặt ngoài càng giảm xóc bánh trước bên phải liền kề phía sau trên xe mô tô mang biển kiểm soát 15D1-262.76.

- Không đủ cơ sở xác định phần đường va chạm và trạng thái va chạm giữa xe ôtô mang Biển kiểm soát 15C-252.72 với xe môtô mang Biển kiểm soát 15D1-262.76.

b) Dấu vết trượt xước mất lớp mạ kim loại màu bạc, bám dính tạp chất màu đỏ (dạng sơn) theo chiều từ trước về sau ở mặt trước và cạnh ngoài bên trái tản nhiệt xe mô tô mang biển kiểm soát 15D1-262.76, phù hợp với dấu vết trượt xước mất sơn màu đỏ, bám dính tạp chất màu bạc (dạng mạ kim loại) theo chiều từ trước về sau ở mặt ngoài ốp nhựa bảo vệ cản trước bên trái (bên lái) xe ô tô mang Biển kiểm soát 15K-226.71.

- Không đủ cơ sở xác định phần đường va chạm và trạng thái va chạm giữa xe mô tô mang biển kiểm soát 15D1-262.76 với xe ô tô mang Biển kiểm soát 15K-226.71".

2. Không đủ cơ sở xác định tốc độ xe ô tô mang Biển kiểm soát 15C- 252.72, xe ô tô mang Biển kiểm soát 15K-226.71 và xe mô tô mang Biển kiểm soát 15D1-262.76 tại thời điểm ngay trước và trong khi xảy ra tai nạn.

Quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Văn T, Vũ Văn N1 khai nhận: Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe ô tô hạng C, làm lái xe cho Công ty cổ phần T4, có trụ sở tại thôn C, xã Q, huyện A. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 17/5/2025, T điều khiển xe ô tô trộn bê tông Biển kiểm soát 15C-252.72 đi trên Quốc lộ A theo hướng Hải Phòng đi Thái Bình, trên xe có anh Nguyễn Văn T3 là công nhân của Công ty ngồi ở ghế phụ. Khi xuống dốc cầu vượt B49, thấy phía trước khoảng 50m có xe ô tô và mô tô đang di chuyển đến, Tiếp nháy đèn pha rồi bật đèn xi nhan bên trái xin đường rồi đánh lái cho xe chuyển hướng sang trái để vào quán cơm ở chân cầu B. Cùng lúc đó, Vũ Văn N1 có giấy phép lái xe hạng A1 điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 15D1-262.76 chở chị Đỗ Thị P theo chiều Thái Bình đi Hải Phòng đi đến, N1 nhìn thấy phía trước có xe ô tô đang sang đường nhưng không giảm tốc độ mà đánh lái sang trái để tránh, đầu xe của N1 đã va vào góc cản sau bên phải xe ô tô Biển kiểm soát 15C-252.72 rồi lao sang chiều đường ngược lại va vào bên trái đầu xe ô tô Biển kiểm soát 15K-226.71 do anh Trần Mạnh K điều khiểu theo chiều Hải Phòng đi Thái Bình, xe mô tô của N1 đổ xuống đường, N1 và chị P bị thương được đưa đi cấp cứu. Sau khi điều khiển xe sang đường nghe thấy tiếng va chạm phía sau, T cho xe vào khu đất ven chân cầu B thì dừng lại, T và T3 xuống kiểm tra xung quanh xe ô tô nhưng không phát hiện thấy dấu vết liên quan đến tai nạn nên T điều khiển xe ô tô về Công ty.

Lời khai của các bị cáo phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các phương tiện, lời khai của người biết sự việc, của bị hại, các kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Về tài sản, vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại các phương tiện và giấy tờ liên quan cho các chủ sở hữu hợp pháp gồm: Xe mô tô Biển kiểm soát 15D1-262.76 cho Vũ Văn N1; xe ô tô Biển kiểm soát 15C-252.72 cho Công ty T4; xe ô tô Biển kiểm soát 15K-226.71 cho anh Trần Mạnh K.

Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số 300074300812 cấp cho Nguyễn Văn T; 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số 270244070039 cấp cho Vũ Văn N1, chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Hải Phòng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn T đã tự nguyện bồi thường số tiền 30.000.000 đồng cho chị Đỗ Thị P, bồi thường số tiền 20.000.000 đồng cho Vũ Văn N1, bồi thường số tiền 15.000.000 đồng cho anh Trần Mạnh K. Chị P, anh K không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Tại Cáo trạng số 06/CT-VKSKV2, ngày 17/10/2025, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng truy tố Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự; truy tố Vũ Văn N1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng; phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; của người biết sự việc; Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm phương tiện, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T và Vũ Văn N1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Văn T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Vũ Văn N1 từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Văn N1.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 45, điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Nguyễn Văn T và Vũ Văn N1.

Về tài sản, vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại các phương tiện và giấy tờ liên quan cho các chủ sở hữu hợp pháp gồm: Xe mô tô Biển kiểm soát 15D1-262.76 cho Vũ Văn N1; xe ô tô Biển kiểm soát 15C-252.72 cho Công ty T4; xe ô tô Biển kiểm soát 15K-226.71 cho anh Trần Mạnh K nên không xem xét giải quyết.

Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số 300074300812 cấp cho Nguyễn Văn T; 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số 270244070039 cấp cho Vũ Văn N1. Xét đây là giấy tờ tùy thân của các bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn T đã tự nguyện bồi thường số tiền 30.000.000 đồng cho chị Đỗ Thị P, bồi thường số tiền 20.000.000 đồng cho Vũ Văn N1, bồi thường số tiền 15.000.000 đồng cho anh Trần Mạnh K. Chị P, anh K không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì khác về dân sự Hội đồng xét xử nên không xem xét, giải quyết. Bị cáo N1 không có yêu cầu nào khác nên không xem xét.

Trong vụ án này, anh Trần Mạnh K điều khiển xe ô tô tuân thủ đúng quy tắc giao thông đường bộ. Tai nạn xảy ra thuộc sự kiện bất ngờ nên anh K không phải chịu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, phần lời nói sau cùng các bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị hại không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Trần Mạnh K (vắng mặt) nên không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt không có lý do. Xét thấy, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã có đầy đủ lời khai, đồng thời thể hiện việc bồi thường đã giải quyết xong và không có yêu cầu gì khác. Tại phiên tòa, các bị cáo và đại diện Viện Kiểm sát không đề nghị hoãn phiên tòa vì sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Xét thấy, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã có lời khai tại các giai đoạn tố tụng và việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

- Về nhận định các tình tiết của vụ án:

[3] Về tội danh: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm phương tiện, Kết luận giám định pháp y, lời khai của người biết sự việc và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 17/5/2025, Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô Biển kiểm soát 15C-252.72 đi trên Quốc lộ A chiều từ Hải Phòng đi Thái Bình (nay là Hưng Yên), khi xuống dốc cầu vượt B49 tại Km 37+700 thuộc địa phận thôn C, xã Q, huyện A (nay là xã A), thành phố Hải Phòng, T cho xe chuyển hướng rẽ trái cùng lúc đó Vũ Văn N1 điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 15D1-262.76 chở chị Đỗ Thị P đi chiều ngược lại đã va vào cản phía sau bên phải xe ô tô của Tiếp rồi lao sang chiều đường H đi Thái Bình va vào xe ô tô Biển kiểm soát 15K-226.71 do anh Trần Mạnh K điều khiển. Hậu quả tai nạn làm chị P bị thương tích giảm 67% sức khỏe; N1 bị thương tích giảm 21% sức khỏe, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của 02 người là 88%. Xe mô tô Biển kiểm soát 15D1-262.76 thiệt hại 3.000.000 đồng; xe ô tô Biển kiểm soát 15K-226.71 thiệt hại 30.065.000 đồng, tổng trị giá tài sản thiệt hại 33.065.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Văn T và Vũ Văn N1 điều khiển xe cơ giới không tuân thủ quy tắc giao thông đường bộ gây tai nạn, trong đó: Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô chuyển hướng không đảm bảo an toàn, dẫn đến tai nạn làm 02 người bị thương giảm 88% sức khỏe và thiệt hại tài sản 33.065.000 đồng, vi phạm khoản 3 Điều 15 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Vũ Văn N1 điều khiển xe mô tô không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn khi thấy xe ô tô đang chuyển hướng sang đường, dẫn đến tai nạn làm 01 người bị thương giảm 67% sức khỏe và thiệt hại tài sản 30.065.000 đồng, vi phạm điểm b khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Vũ Văn N1 đã đủ cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không những xâm phạm quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ mà còn là nguyên nhân trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự công cộng tại địa phương.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn T đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; do đó, bị cáo Nguyễn Văn T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Ngoài ra, bị cáo Vũ Văn N1 có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên có thể áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, coi đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác của các bị cáo. Hồ sơ vụ án thể hiện ông Vũ Văn C (bố bị cáo N1) có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nhưng đây là các tài liệu photo, không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nên không có căn cứ xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Vũ Văn N1.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt: Vụ án này không có đồng phạm nhưng cần phải đánh giá vai trò, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo để xem xét, khi quyết định hình phạt.

[7] Về hình phạt:

[7.1] Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy, bị cáo Nguyễn Văn T thực hiện hành vi điều khiển xe ô tô chuyển hướng không đảm bảo an toàn, dẫn đến tai nạn làm 02 người bị thương giảm 88% sức khỏe và thiệt hại tài sản trị giá 33.065.000 đồng nên bị cáo T phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo N1. Đối với bị cáo Vũ Văn N1 điều khiển xe mô tô không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn khi thấy xe ô tô đang chuyển hướng sang đường, dẫn đến tai nạn làm 01 người bị thương giảm 67% sức khỏe và thiệt hại tài sản trị giá 30.065.000 đồng nên bị cáo N1 chịu hình phạt thấp hơn bị cáo T. Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích tại mục [5] và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ngoài hành vi phạm tội lần này ra, các bị cáo đều chấp hành tốt các quy định của pháp luật. Do đó, áp dụng hình phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo tính giáo dục, phòng ngừa chung như đề nghị của Viện Kiểm sát là có cơ sở.

[7.2] Về hình phạt bổ sung: Do đây là lần đầu tiên các bị cáo thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về giao thông; các bị cáo là người không có chức vụ nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo như đề nghị của Viện Kiểm sát là có cơ sở.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn T đã tự nguyện bồi thường xong trách nhiệm dân sự cho bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và đối với Vũ Văn N1 với tổng số tiền là 65.000.000 đồng. Đến nay, những người nêu trên không có yêu cầu, đề nghị gì khác về việc bồi thường. Như vậy, trách nhiệm dân sự trong vụ án đã được giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Đối với bị cáo Vũ Văn N1, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử không ai có yêu cầu bồi thường nên không xem xét, giải quyết.

- Về xử lý tài sản, vật chứng:

[9] Cơ quan điều tra đã trả lại các phương tiện và giấy tờ liên quan cho các chủ sở hữu hợp pháp gồm: Xe mô tô Biển kiểm soát 15D1-262.76 cho Vũ Văn N1; xe ô tô Biển kiểm soát 15C-252.72 cho Công ty T4; xe ô tô Biển kiểm soát 15K-226.71 cho anh Trần Mạnh K nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[10] Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số 300074300812 cấp cho Nguyễn Văn T; 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số 270244070039 cấp cho Vũ Văn N1. Xét đây là giấy tờ tùy thân của các bị cáo nên tuyên trả lại cho các bị cáo.

[11] Về các vấn đề khác: Trong vụ án này, anh Trần Mạnh K điều khiển xe ô tô tuân thủ đúng quy tắc giao thông đường bộ. Tai nạn xảy ra thuộc sự kiện bất ngờ nên anh K không phải chịu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính là có căn cứ.

[12] Về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Văn N1.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T và Vũ Văn N1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt:

  • - Bị cáo Nguyễn Văn T 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.
  • - Bị cáo Vũ Văn N1 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã N, thành phố Hải Phòng; giao bị cáo Vũ Văn N1 cho Ủy ban nhân dân xã C, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sư từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:

“1. Ngươi được hương án treo có thể văng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm văng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thơi gian văng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thơi gian văng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thơi gian thư thách, trư trương hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sơ y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sơ y tế đó.

2. Ngươi được hương án treo khi văng măt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sư đông ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trương hợp không đông ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lơi băng văn bản và nêu rõ lý do. Ngươi được hương án treo khi đên nơi cư trú mơi phải trình báo vơi Công an cấp xã nơi mình đên tạm trú, lưu trú; hết thơi hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trương hợp ngươi được hương án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi ngươi đó đên tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

3. Việc giải quyết trương hợp ngươi được hương án treo thay đôi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

4. Ngươi được hương án treo không được xuất cảnh trong thơi gian thư thách".

Về hình phạt bổ sung: Không.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 45, điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với Nguyễn Văn T và Vũ Văn N1.

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng C số 300074300812 cấp ngày 31/01/2024 mang tên Nguyễn Văn T. Trả lại cho bị cáo Vũ Văn N1 01 (một) Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số 270244070039 cấp ngày 11/11/2024 mang tên Vũ Văn N1.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Hải Phòng ngày 21/10/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Vũ Văn N1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (vắng mặt) có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.Hải Phòng;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP.Hải Phòng;
  • - PV 06 Công an TP. Hải Phòng;
  • - CA thành phố Hải Phòng;
  • - Cơ quan THAHS Công an TP. Hải Phòng;
  • - VKSND khu vực 2 - Hải Phòng;
  • - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Hải Phòng;
  • - UBND nơi cư trú của các bị cáo;
  • - Các bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLNV liên quan đến vụ án;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Chung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2025/HS-ST ngày 22/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)

  • Số bản án: 92/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Tiếp + Vũ Văn Nam - Vi phạm quy định về giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger