Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2025/HS-PT

Ngày: 22-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Văn Tùng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Hải
Bà Bùi Thị Thảo
Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Sơn - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 152/2025/TLPT-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2025/QĐXXPT-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo Đinh Thị H, Bùi Văn Đ, Phạm Huy H1, Nguyễn Hoàng A do có kháng cáo của bốn bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2025/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Đinh Thị H; tên gọi khác: Không; sinh năm 1998; giới tính: Nữ; nơi sinh: xã X, huyện N, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn B, xã P, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đinh Văn C, sinh năm 1975, con bà Bùi Thị H2, sinh năm 1971; gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Có chồng là Bùi Văn Đ và 04 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 07-3-2025 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 14 năm 06 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 07-3-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt;

  2. Họ và tên: Bùi Văn Đ; tên gọi khác: Không; sinh năm 1996; giới tính: Nam; nơi sinh và nơi cư trú: Thôn B, xã P, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Bùi Văn N, sinh năm 1972, con bà Hoàng Thị L, sinh năm 1978; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Bị cáo có vợ là Đinh Thị H và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2020, con nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không: Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01-4-2025 đến ngày 04-4-2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3 - Công an tỉnh N. Có mặt;

  3. Họ và tên: Phạm Huy H1; tên gọi khác: Không; sinh ngày 29-4-2007; giới tính: Nam; nơi sinh và nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Quang H3, sinh năm 1981, con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1981; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai. Bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không: Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01-4-2025 đến ngày 04-4-2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3 - Công an tỉnh N. Có mặt;

    Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Phạm Huy H1: Ông Phạm Quang H3, sinh năm 1981. Nơi thường trú: Thôn Đ, xã P, tỉnh Ninh Bình. Có mặt;

    Người bào chữa cho bị cáo Phạm Huy H1: Bà Trần Thị N1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình. Có mặt;

  4. Họ và tên: Nguyễn Hoàng A; tên gọi khác: Không; sinh ngày 01-10-2007; giới tính: Nam; nơi sinh và nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1976, con bà Ngô Thị L1, sinh năm 1977; bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01-4-2025 đến ngày 04-4-2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3 - Công an tỉnh N. Có mặt;

    Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Hoàng A: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1976. Nơi thường trú: Thôn Đ, xã P, tỉnh Ninh Bình. Có mặt;

    Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng A: Bà Đặng Thu H4 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình. Có mặt.

* Bị hại: Chị Quản Thị L2, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Thôn Đ, phường K, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

* Những người làm chứng:

  1. Chị Phạm Thị T2. Vắng mặt.
  2. Chị Nguyễn Thị V. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30-3-2025 Bùi Văn Đ điều khiển xe ô tô BKS 18A-46047 chở theo vợ là Đinh Thị H sinh năm 1998 và 02 nhân viên làm cho Đ là Phạm Huy H1 và Nguyễn Hoàng A cùng trú tại xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định (nay là xã P, tỉnh Ninh Bình) cùng đi lễ ở tỉnh Hưng Yên. Do biết Đ có quan hệ tình cảm với chị Quản Thị L2 ở xã V, huyện K, tỉnh Hà Nam (nay là phường K, tỉnh Ninh Bình) nên trên đường đi lễ về, H có hỏi Đ về mối quan hệ giữa Đ và L2 và hỏi từ khi quen nhau đến nay Đương đã cho L2 tổng cộng bao nhiêu tiền, Đ nói khoảng 45-50 triệu. Nghe Đ nói vậy H nảy sinh ý định sẽ đòi lại số tiền mà Đ đã cho L2. H nói với Đ nhắn tin hẹn L2 đi chơi rồi đưa về nhà kho ở Thôn P, xã Ý, tỉnh Ninh Bình (nơi vợ chồng H thuê để bán hàng) H sẽ bắt L2 phải trả lại tiền, Đ đồng ý. H nói với Hoàng A và Huy H1: “Tý nữa anh đưa con kia về, phi xe vào cổng thì hai đứa mày khoá luôn cửa vào, canh không cho nó ra ngoài”, cả hai đều đồng ý. Khi Đ điều khiển xe chở mọi người đến lối ra cao tốc L, tỉnh Ninh Bình, Đ nói: “Giờ anh đi đón nó, các em bắt taxi về nhà trước”, H, H1 và Hoàng A đồng ý. Đương điều khiển xe ô tô đến khu KTX D phường N, Khu công nghiệp Đ, xã K, tỉnh Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình) để đón Quản Thị L2 như đã hẹn. Còn H, Hoàng A và H1 đi taxi về nhà kho tại thôn P, xã Ý đợi.

Khoảng 19 giờ 42 phút cùng ngày Đ điều khiển xe chở L2 về đến khu vực nhà kho ở thôn P, lúc này H đang trong nhà còn Hoàng A và Huy H1 đang đợi ở cửa. Khi thấy xe của Đ đi vào trong nhà kho thì Hoàng A và Huy H1 đóng cửa lại, Hoàng A dùng khoá để khoá cửa rồi cất chìa khoá đi, sau đó cả hai đứng ở đó cảnh giới. Đ điều khiển xe chở L2 đi vào trong nhà kho, lấy trong cốp trước của xe 01 con dao nhọn có một cạnh sắc dài 22cm mở cửa xe đi xuống, tay phải cầm dao chĩa mũi dao về phía L2 đang ngồi trong xe bên ghế phụ nói: “Con mẹ mày, hôm nay mày xuống đây, tao sẽ xiên mày chết, giết mày chết”, lúc này H đang ở trong phòng ngủ chạy đến xe ô tô mở cửa xe bên ghế phụ rồi túm tóc L2 kéo ra khỏi xe, quát: “Đ.mẹ mày xuống đây”, rồi bảo Đ “Anh vào nhà đi”. H một tay túm tóc kéo L2 ra khỏi ô tô rồi dùng tay, chân, tát, đá vào mặt, vào người L2, sau đó kéo L2 đến gần khu vực ban thờ thần tài ở góc phía Tây nhà kho. Lúc này H phát hiện trên cổ L2 có đeo 01 sợi dây chuyền màu vàng, có gắn mặt dây chuyền hình hồ ly liền dùng tay giật sợi dây chuyền. Sau đó H rút dây thắt lưng của mình vụt liên tiếp vào đầu, vào người L2, làm L2 chảy máu ở đầu. Lúc này Đ chạy vào phòng ngủ lấy ra một gậy bóng chày tiếp tục chạy đến chỗ L2 đe doạ: “Đ.m mày để tao vụt cho mấy cái”, H bảo Đ: “ra ngoài để tôi giải quyết”, Đ lại đi vào trong phòng. H bắt L2 quỳ xuống trước mặt mình để xin lỗi, L2 van xin: “Em biết lỗi rồi, chị tha cho em” H túm tóc L2 hỏi: “Điện thoại mày đâu, đưa đây”, L2 lấy điện thoại màu xanh từ trong túi xách ra, H giật lấy điện thoại thấy trong ốp điện thoại có một triệu đồng gồm 02 tờ tiền pôlime mệnh giá 500.000đ, H lấy tiền rồi nói với L2: “Mày lấy của chồng tao bao nhiêu tiền thì trả cho chồng tao”, L2 nói khoảng 30.000.000 đ (Ba mươi triệu đồng), H bắt L2 phải trả lại tiền cho H, L2 nói trong tài khoản của L2 chỉ còn năm triệu chín trăm nghìn đồng, H đưa điện thoại cho L2 và yêu cầu chuyển hết số tiền từ tài khoản ngân hàng M số [...] của L2 vào tài khoản số 850597 ngân hàng M mang tên Đinh Thị H. Sau khi L2 thao tác chuyển khoản xong, H nói: “Tao cho mày 10 phút xoay tiền trả lại cho tao”, lúc này thấy trên mặt L2 có máu nên H bảo Nguyễn Hoàng A dẫn L2 đi rửa mặt, sau đó H nói với H1 giám sát trong lúc L2 nhắn tin tránh Luyến dở trò, bỏ trốn. Biết L2 nhắn tin nhưng không vay được tiền nên H nói: “Mày reset máy điện thoại, thoát I rồi đưa điện thoại đây”, sau đó H vào phòng lấy giấy bút ra đưa cho L2 bắt L2 viết “Biên bản xác nhận” với nội dung: Luyến vay của Đ số tiền gần 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) do không có tiền trả nên chị L2 xác nhận đưa cho Đ 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax, 1.000.000đ tiền mặt và 5.900.000đ là chuyển khoản và sợi dây chuyền vàng SI 18 K, nợ nần giữa L2 và Đ coi như giải quyết xong.

Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi L2 viết xong biên bản xác nhận, H bảo Hoàng A và H1 mở cửa kho cho L2 đi về. Khi Quản Thị L2 đi bộ về được một đoạn thì Bùi Văn Đ điều khiển xe ô tô chở H, Hoàng A và Huy H1 đi qua, H bảo Đ: “Mở cửa xe chở nó ra cầu K, cho nó bắt xe về”, Đ đồng ý, khi L2 lên xe H có đưa cho L2 1.000.000 đ để bắt xe đi về.

Sau khi chiếm đoạt được số tài sản của chị Quản Thị L2, Đinh Thị H đưa cho Đ giữ chiếc điện thoại Iphone 15 Promax, sợi dây chuyền vàng, H bán cho chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1990, là chủ cửa hàng V1 địa chỉ tại thôn M, xã P, huyện Ý, tỉnh Nam Định (nay là xã P, tỉnh Ninh Bình) được 8.220.000 đồng, số tiền chiếm đoạt được H sử dụng vào mục đích tiêu sài cá nhân hết.

Ngày 31-3-2025, chị Quản Thị L2 đến cơ quan Công an tỉnh N (nay là Công an tỉnh N) trình báo nội dung sự việc như nêu trên. Cơ quan Công an tỉnh N tiến hành lập biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với Quản Thị L2 ghi nhận: Phía sau cổ có vết hằn ấn màu đỏ vòng từ sau ra trước kích thước (0,2x6)cm; Xung quanh vùng mũi bầm tím, tụ máu; Vùng đỉnh đầu có 01 vết rách da tụ máu kích thước (0,2x3)cm; Vùng sườn trái có 01 vết bầm tím tụ máu. Quá trình làm việc Luyến xác định do thương tích chỉ bị phần mềm không phải nằm điều trị cơ sở y tế nào nên chị L2 không yêu cầu giám định, không có đề nghị gì khác. Vì vậy cơ quan điều tra không đề cập xem xét.

Quá trình điều tra cơ quan CSĐT Công an tỉnh N tiến hành thu giữ của vợ chồng Bùi Văn Đ: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu xanh; 01 (Một) xe ô tô nhãn hiệu KIA K3 màu trắng, BKS: 18A - 460.47, số khung: RNYYD41A6EC049185, số máy: G4FGEH703440; 01 (một) dao bấm dài 22cm, dao có 01 cạnh sắc, lưỡi dao nhọn dài 10cm, bản rộng lưỡi dao dài 01cm, chuôi dao được làm bằng gỗ màu nâu dài 12cm, bản rộng chuôi dao 1,2cm; 01 (một) giấy ghi “Biên bản xác nhận ”viết tay đề ngày 30-3-2025;

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Văn Đ và Đinh Thị H tại thôn P, xã Ý, tỉnh Ninh Bình: thu giữ 01 (một) gậy bằng kim loại, thân hình trụ, màu đỏ, kích thước dài 70cm.

Đối với 01 thắt lưng giả da màu nâu, dài khoảng 110cm là hung khí H sử dụng để đe dọa chiếm đoạt tài sản của chị L2, do bị hỏng nên H đã vất đi trên dọc đường. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được.

Thu giữ 27 (Hai mươi bảy) đoạn video được trích xuất từ Camera an ninh tại kho hàng của H tại thôn P, xã Ý, tỉnh Ninh Bình, ghi nhận lại toàn bộ nội dung vụ việc.

Thu giữ của chị Nguyễn Thị V: 01 (Một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, chế tác dạng các mắt xích rỗng nối với nhau và 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng, mặt trên có gắn các viên vật liệu không màu.

Tại Bản kết luận giám định số 2995/KL-KTHS ngày 16-4-2025 của V2 - Bộ C1 và kết luận định giá tài sản số 10 ngày 08-4-2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ý - tỉnh Nam Định kết luận: 01 (Một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, chế tác dạng các mắt xích rỗng nối với nhau gửi giám định có tổng khối lượng 7,12 gam là hợp kim của vàng (A), bạc (A2), đồng (Cu), kẽm (Zn); hàm lượng trung bình A3: 40,01%, A1: 7,4% có giá 6.300.000 đồng; 01 (Một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng, mặt trên có gắn các viên vật liệu không màu có tổng khối lượng 2,30 gam (tính cả khối lượng các viên vật liệu). Phần kim loại là hợp kim của vàng (A), bạc (A2), đồng (Cu), kẽm (Zn); hàm lượng trung bình A3: 35,16%, Ag: 5,43% có giá 2.100.000 đồng.

Tại kết luận định giá tài sản số 10 ngày 08-4-2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ý - tỉnh Nam Định kết luận: Giá trị của chiếc điện thoại Iphone 15 Promax màu xanh là 23.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 722 ngày 09-5-2025 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận đối với 27 đoạn video như thu giữ: Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong mẫu cần giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 703 ngày 29-4-2025 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận:

Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A1 (Gậy kim loại) không thuộc danh mục nào theo quy định của pháp luật hiện hành về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và không phải vũ khí quân dụng.

Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A2 là dao bấm, thuộc phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao” Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15-11-2024 của Bộ C1, không phải là vũ khí quân dụng.

Về xử lý vật chứng, tài sản, đồ vật có liên quan trong vụ án; Vật chứng của vụ án: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu xanh; 01 (Một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, chế tác dạng các mắt xích rỗng nối với nhau, 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng, mặt trên có gắn các viên vật liệu không màu. Quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Quản Thị L2 nên ngày 20-6-2025 Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh N đã trả lại cho chị L2, chị L2 đã nhận lại tài sản của mình.

Một xe ô tô nhãn hiệu KIA K3 màu trắng, BKS: 18A - 460.47, số khung: RNYYD41A6EC049185, số máy: G4FGEH703440. Quá trình điều tra xác định là xe của Bùi Văn Đ thuê xe tự lái của chị Phạm Thị T2 nên 26-5-2025 Cơ quan Công an tỉnh N đã trả lại cho chị T2, chị T2 không có yêu cầu đề nghị gì.

Một dao bấm dài 22cm, dao có 01 cạnh sắc, lưỡi dao nhọn dài 10cm, bản rộng lưỡi dao dài 01cm, chuôi dao được làm bằng gỗ màu nâu dài 12cm, bản rộng chuôi dao 1,2cm; 01 (một) gậy bằng kim loại, thân hình trụ, màu đỏ dài khoảng 70cm. Đã chuyển kho vật chứng của Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình chờ xử lý.

Một giấy ghi “Biên bản xác nhận” và 27 (Hai mươi bảy) đoạn video được trích xuất từ Camera an ninh tại nhà kho ghi nhận lại toàn bộ nội dung vụ việc là vật chứng vụ án được lưu kèm hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Tại đơn xin giảm nhẹ hình phạt ngày 05-9-2025 của chị Quản Thị L2 đã nộp tại Tòa án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình, chị Quản Thị L2 xác nhận giữa chị và các bị cáo đã giải quyết xong về phần bồi thường thiệt hại. Chị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đối với chị Nguyễn Thị V chủ cửa hàng V1 đã mua sợi dây chuyền của H với giá 8.220.000 đồng, chị V không biết đó là tài sản do H phạm tội mà có. H đã trả lại tiền cho chị V, chị V không có yêu cầu đề nghị gì.

Tại cơ quan cảnh sát điều tra các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Cáo trạng số 08/CT - VKS-KV8 ngày 11-8-2025 của VKSND khu vực 8 - Ninh Bình truy tố bị cáo Đinh Thị H về tội “Giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự và tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, h khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự. Truy tố các bị cáo Bùi Văn Đ, Phạm Huy H1 và Nguyễn Hoàng A về tội “Giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự và tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

Với nội dung vụ án nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2025/HS-ST ngày 29-9-2025 của Toà án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình, đã quyết định: Căn cứ Điều 157 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố Đinh Thị H, Bùi Văn Đ, Phạm Huy H1, Nguyễn Hoàng A phạm tội “Giữ người trái pháp luật” ; căn cứ Điều 168 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố Đinh Thị H, Bùi Văn Đ, Phạm Huy H1, Nguyễn Hoàng A phạm tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Đinh Thị H 12 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”; áp dụng điểm d, h khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o, h Điều 52 ; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Đinh Thị H 09 năm tù về tội “Cướp tài sản” ; áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 10 năm tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 30 ngày 07/3/2025 của TAND tỉnh Nam Định, buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 24 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm i, b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Bùi Văn Đ 09 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”; áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Bùi Văn Đ 08 năm 3 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 9 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt - ngày 01-4-2025.

Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm i, b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 ; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Huy H1 06 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”; áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Huy H1 05 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo H1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 6 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt - ngày 01-4-2025.

Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm i, b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 ; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Hoàng A 06 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”; áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Hoàng A từ 05 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo Hoàng A phải chấp hành hình phạt cho cả hai tội là 6 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt - ngày 01-4-2025.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo và biện pháp đảm bảo thi hành án.

Ngày 01-10-2025, bị cáo Đinh Thị H có đơn kháng cáo với nội dung: Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Ninh Bình tuyên phạt đối với bị cáo ngày 29-9-2025 là quá nghiêm khắc, bởi lẽ trong vụ án nêu trên, ngay từ đầu bị cáo không có ý định chiếm đoạt tài sản của chị Quản Thị L2 mà chỉ có ý định đánh chị L2 một trận vì quá bức xúc việc chị L2 có quan hệ tình cảm bất chính với chồng bị cáo là Bùi Văn Đ. Trong sự việc nêu trên, tại thời điểm khi lấy các tài sản của chị L2 bị cáo không nhận thức được đầy đủ là hành vi vi phạm pháp luật mà bản thân bị cáo chỉ nghĩ các tài sản của chị L2 là tài sản mà chồng bị cáo là Bùi Văn Đ trong quá trình quan hệ tình cảm với chị L2 đã đưa cho chị L2 là tài sản chung của vợ chồng nên bị cáo lấy lại. Chỉ đến khi cơ quan Công an triệu tập bị cáo làm việc được Cơ quan Công an giải thích pháp luật bị cáo mới nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Hơn nữa, trước khi thực hiện hành vi trong vụ án nêu trên bản thân bị cáo rất bức xúc, phẫn uất, kích động dẫn đến không làm chủ được tâm lý và tinh thần khi phát hiện việc chị L2 không những quan hệ tình cảm bất chính với chồng bị cáo mà còn rất nhiều lần nhận tiền và tài sản từ chồng bị cáo trong khi gia đình bị cáo đang trong hoàn cảnh rất khó khăn. Hiện nay gia đình bị cáo đông con, 03 (ba) người con của bị cáo đều rất nhỏ, cháu lớn mới 05 tuổi, hai cháu nhỏ đều dưới 36 tháng tuổi. Con nhỏ của bị cáo sức khỏe yếu hay ốm đau thường xuyên phải đi viện điều trị. Hơn nữa, bị cáo và chồng đều là lao động chính trong gia đình, hiện nay chồng bị cáo đang bị bắt giam và bị tuyên xử tổng hình phạt đến 9 năm tù giam. Bị cáo đang được tại ngoại, tuy nhiên một mình bị cáo vừa phải lao động, làm việc vừa phải chăm sóc, nuôi 03 (ba) con nhỏ thực sự rất khó khăn. Chính vì vậy, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo được hưởng thêm sự khoan hồng của pháp luật và có điều kiện sớm trở về với xã hội và gia đình để chăm sóc các con nhỏ.

Ngày 07 tháng 10 năm 2025 bị cáo Bùi Văn Đ có đơn kháng cáo với nội dung: Ngày 29 tháng 9 năm 2025 bị cáo bị Tòa án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình xử phạt 09 năm tù giam về tội giữ người trái pháp luật, cướp tài sản. Bị cáo thấy việc xét xử của Tòa án là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xong bản thân bị cáo thấy mức án mà tòa tuyên là cao so với hành vi phạm tội của bị cáo. Hơn nữa Hoàn cảnh gia đình bị cáo hết sức khó khăn, bố mẹ già yếu, vợ thì không có công ăn việc làm ổn định, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình vậy bị cáo làm đơn này kính mong Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình và xã hội trở thành người công dân có ích.

Ngày 08-10-2025 ông Phạm Quang H3 là Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Phạm Huy H1 có đơn kháng cáo với nội dung: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình đưa ra xét xử sơ thẩm vào ngày 29-9-2025 với mức án 6 tháng tù về tội Giữ người trái pháp luật và 5 năm 6 tháng tù về tội Cướp tài sản. Ông H3 làm đơn này xin quý Tòa xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình để đưa ra bản án phù hợp hơn. Ông H3 biết hành vi của bị cáo Phạm Huy H1 là vi phạm pháp luật nhưng ông H3 mong quý tòa xem xét đến điều kiện, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo H1. Bản thân bị cáo Huy H1 chưa có tiền án tiền sự, luôn chấp hành các chính sách và pháp luật của Nhà nước. Trong vụ án này bị cáo H1 tham gia với vai trò giúp sức, không tham gia đánh đập bị hại, không lấy bất kỳ một tài sản gì của bị hại. Trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo H1 thật sự đã nhận ra lỗi lầm của mình, đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, giúp cơ quan tiến hành tố tụng kết thúc vụ án nhanh chóng. Ông nội và bà ngoại của bị cáo đều là người có công với cách mạng. Gia dình ông H3 có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đã được Ủy ban nhân dân xã P xác nhận. Vì những lý do trên ông H3 nhận thấy Tòa án nhân dân khu vực 8 - tỉnh Ninh Bình tuyên bị cáo Hoàng T3 mức án 6 năm tù là quá nặng. Nay ông H3 đề nghị quý Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt giúp bị cáo Hoàng S có điều kiện lao động sản xuất, làm lại cuộc đời.

Ngày 08-10-2025 ông Nguyễn Văn T1 là Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Hoàng A có đơn kháng cáo với nội dung: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình đưa ra xét xử sơ thẩm vào ngày 29-9-2025 với mức án 6 tháng tù về tội Giữ người trái pháp luật và 5 năm 6 tháng tù về tội Cướp tài sản. Ông T1 làm đơn này xin quý Tòa xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình để đưa ra bản án phù hợp hơn. Ông T1 biết hành vi của bị cáo A là vi phạm pháp luật nhưng ông T1 mong quý tòa xem xét đến điều kiện, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo A. Bản thân bị cáo Hoàng A chưa có tiền án tiền sự, luôn chấp hành các chính sách và pháp luật của Nhà nước. Vì bị cáo học kém nên phải nghỉ học khi chưa học xong cấp trung học cơ sở, chính vì thế bị cáo không nhận thức được hết việc làm. Trong vụ án này bị cáo tham gia với vai trò giúp sức, không tham gia đánh đập bị hại, không lấy bất kỳ một tài sản gì của bị hại. Trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo thật sự đã nhận ra lỗi lầm của mình, đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, giúp cơ quan tiến hành tố tụng kết thúc vụ án nhanh chóng. Bà nội và ông ngoại của bị cáo đều là người có công với cách mạng. Gia đình ông T1 có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đã được Ủy ban nhân dân xã P xác nhận. Vì những lý do trên ông T1 nhận thấy Tòa án nhân dân khu vực 8 - tỉnh Ninh Bình tuyên bị cáo A tổng mức án 6 năm tù là quá nặng. Nay ông T1 đề nghị quý Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt giúp bị cáo Anh sớm có điều kiện lao động sản xuất, làm lại cuộc đời.

Ngày 10-10-2025, bị cáo Nguyễn Hoàng A có đơn kháng cáo với nội dung: Ngày 29 tháng 9 năm 2025 Tòa án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm bị cáo về tội “Giữ người trái pháp luật” và “Cướp tài sản”. Tòa án tuyên phạt bị cáo tổng mức hình phạt của hai tội danh trên là 06 năm tù giam. Bị cáo thấy Tòa án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình xét xử bị cáo với hai tội như trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên bị cáo nhận thấy mức hình phạt Tòa tuyên với bị cáo là hơi cao. Bản thân bị cáo khi thực hiện hành vi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức về pháp luật còn rất hạn chế. Trong quá trình thực hiện hành vi bị cáo chỉ làm theo lời của chị chủ vì là người làm thuê nên bị cáo không nhận biết được đúng sai. Khi bị tạm giam bị cáo rất ăn năn hối cải về hành động của mình, thành khẩn khai báo, hợp tác với cơ quan điều tra. Quá trình bị tạm giam bị cáo luôn chấp hành tốt nội quy cơ sở giam giữ. Được cán bộ quản giáo giải thích về pháp luật bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình và rất ăn năn hối lỗi. Vậy bị cáo kính đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về xã hội lao động đóng góp và trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo Đinh Thị H, Bùi Văn Đ, Nguyễn Hoàng A; ông Phạm Quang H3 là người đại diện theo pháp luật của bị cáo Phạm Huy H1; ông Nguyễn Văn T1 là người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Hoàng A vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình kết luận về vụ án: Đơn kháng cáo của các bị cáo Đinh Thị H, Bùi Văn Đ, Nguyễn Hoàng A; Đơn kháng cáo của ông Phạm Quang H3, ông Nguyễn Văn T1 là hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo là đúng người, đúng tội, đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo Bùi Văn Đ, Phạm Huy H1, Nguyễn Hoàng A không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Đinh Thị H có giao nộp thêm một số tài liệu mới như biên lai thu tiền án phí hình sự sơ thẩm ngày 05-12-2025 của hai bị cáo Hvà bị cáo Đ, ngày 05-12-2025 ông Bùi Văn N là bố đẻ của bị cáo Đ có đơn xin xác nhận hoàn cảnh khó khăn, bố đẻ của Đ đang mắc bệnh gout thể biến chứng, sức khỏe rất yếu, đi lại khó khăn, không còn khả năng lao động và không có nguồn thu nhập ổn định. Bị cáo Đ là lao động chính trong gia đình nhưng hiện đang chấp hành án phạt tù. Vợ của Đ là Đinh Thị H bị khởi tố trong cùng vụ án hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú do đang trực tiếp nuôi con dưới 36 tháng tuổi, tuy nhiên H bị tuyên mức hình phạt cao nhất nên hoàn toàn không có khả năng lao động, không thể nuôi dưỡng các con sau này. Bị cáo Đ có 03 con nhỏ, các cháu đều còn nhỏ, trong đó có cháu dưới 36 tháng tuổi, cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc vào ông bà và họ hàng. Gia đình ông N không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập bấp bênh; bản thân ông N đau ốm triền miên, đời sống vô cùng khó khăn, thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần, đơn đã có xác nhận của chính quyền địa phương. Ông Phạm Quang H3 là bố đẻ của bị cáo Phạm Huy H1, ông Nguyễn Văn T1 là bố đẻ của bị cáo Nguyễn Hoàng A đều có đơn đề nghị trình bày hoàn cảnh gia đình có khó khăn, đơn có xác nhận của chính quyền địa phương nên ba bị cáo Bùi Văn Đ, Phạm Huy H1, Nguyễn Hoàng A đã có thêm tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đ, bị cáo H1, bị cáo A đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Đ từ 7 năm đến 7 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và 06 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”; Hai bị cáo Phạm Huy H1 và Nguyễn Hoàng A từ 05 năm đến 05 năm 03 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đinh Thị H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới để làm căn cứ chứng minh cho kháng cáo của mình. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Thị H; căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo H; căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình về phần hình phạt đối với bị cáo Đ, bị cáo H1 và bị cáo A.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về phần thủ tục: Đơn kháng cáo của các bị cáo Đinh Thị H, Bùi Văn Đ, Nguyễn Hoàng A; Ông Phạm Quang H3 là người đại diện theo pháp luật của bị cáo Phạm Huy H1; Ông Nguyễn Văn T1 là người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Hoàng A làm trong thời hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của các bị cáo Đinh Thị H, Bùi Văn Đ, Nguyễn Hoàng A; Ông Phạm Quang H3 là người đại diện theo pháp luật của bị cáo Phạm Huy H1; Ông Nguyễn Văn T1 là người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Hoàng A, Hội đồng xét xử nhận thấy: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 30-3-2025 tại kho hàng của vợ chồng Đinh Thị H ở thôn P, xã Ý, tỉnh Ninh Bình, H cùng với chồng là Bùi Văn Đ và Nguyễn Hoàng A, Phạm Huy H1 là người làm thuê cho H, đã thực hiện hành vi đóng cửa, canh coi, giữ chị Quản Thị L2 không cho ra khỏi nhà kho, rồi dùng dao, gậy bóng chày đe doạ, dùng tay chân đấm đá, dùng dây thắt lưng vụt chị L2 sau đó chiếm đoạt 01 sợi dây chuyền vàng có mặt đá trị giá 8.400.000đ, 01 điện thoại di động Iphone 15, Promax trị giá 23.000.000₫, 1.000.000₫ tiền mặt và 5.900.000đ tiền trong tài khoản của L2, Tổng giá trị tài sản của L2 bị chiếm đoạt là 38.300.000đ. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày chị L2 mới được mở cửa cho về. Hành vi nêu trên của các bị cáo Đinh Thị H, Bùi Văn Đ, Phạm Huy H1, Nguyễn Hoàng A đã phạm vào tội “Giữ người trái pháp luật”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự và tội “Cướp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đ, bị cáo H1, bị cáo A; điểm d, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự đối với bị cáo H.

[3] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập, qua quá trình tranh tụng tại phiên toà. Xét thấy, cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Đinh Thị H, Bùi Văn Đ, Phạm Huy H1, Nguyễn Hoàng A về tội “Giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự và tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đ, bị cáo H1, bị cáo A; điểm d, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự đối với bị cáo H là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

[4] Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân của bị cáo, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt Đinh Thị H 12 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật” và 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”; Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 10 năm tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 30 ngày 07-3-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định, buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 24 năm 06 tháng tù. Toà án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo Bùi Văn Đ 09 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật” và 08 năm 3 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 9 năm tù. Toà án cấp sơ thẩm xử phạt đối với các bị cáo Phạm Huy H1, Nguyễn Hoàng A mỗi bị cáo 06 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật” và 05 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo H1, bị cáo A mỗi bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 06 năm tù là chưa phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo H, bị cáo Đ, bị cáo H1 và bị cáo A thực hiện.

[5] Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xác định hành vi của các bị cáo Đinh Thị H, Bùi Văn Đ, Phạm Huy H1, Nguyễn Hoàng A là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới quyền tự do thân thể, tính mạng, sức khỏe của người khác và quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây nên tình hình mất trật tự trị an xã hội, ảnh hưởng xấu đến phong trào bảo vệ an ninh ở địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo sợ, bất bình cho quần chúng nhân dân. Do đó cần bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật Hình sự để răn đe, giáo dục các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho các bị cáo như nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm là hoàn toàn phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Đinh Thị H đưa ra được tình tiết giảm nhẹ mới là đã nộp xong tiền án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo đang phải nuôi 04 con nhỏ ăn học, bản thân lại không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế gia đình đang gặp rất nhiều khó khăn. Sau khi xét xử sơ thẩm gia đình các bị cáo Bùi Văn Đ, Phạm Huy H1, Nguyễn Hoàng A đã nộp đơn trình bày hoàn cảnh có xác nhận của chính quyền địa phương. Khi phạm tội các bị cáo Phạm Huy H1, Nguyễn Hoàng A chưa đủ 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, có nhân thân tốt mới lần đầu phạm tội, bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Bố đẻ của Đ đang mắc bệnh gout thể biến chứng, sức khỏe rất yếu, đi lại khó khăn, không còn khả năng lao động và không có nguồn thu nhập ổn định. Bị cáo Đ là lao động chính trong gia đình nhưng hiện đang chấp hành án phạt tù. Vợ của Đ là bị cáo Đinh Thị H cũng bị khởi tố trong cùng vụ án hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú do đang trực tiếp nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Tuy nhiên, bị cáo H bị tuyên mức hình phạt cao nhất nên hoàn toàn không có khả năng lao động, không thể nuôi dưỡng các con sau này. Bị cáo Đ có 03 con nhỏ, các cháu đều còn nhỏ, trong đó có cháu dưới 36 tháng tuổi, cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc vào ông bà và họ hàng. Gia đình ông N không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập bấp bênh; bản thân ông N đau ốm triền miên, đời sống vô cùng khó khăn, thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần. Đối với bị cáo Phạm Huy H1, Nguyễn Hoàng A không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bị cáo H, bị cáo Đ, bị cáo H1 và bị cáo A đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên các bị cáo H, bị cáo Đ, bị cáo H1 và bị cáo A đều có thêm tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS nên có căn cứ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Đ ở cả hai tội “Giữ người trái pháp luật” và tội “Cướp tài sản”, có căn cứ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho ba bị cáo H, bị cáo H1 và bị cáo A ở tội “Cướp tài sản”để bốn bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật sớm được trở về hòa nhập cộng đồng làm ăn lương thiện có ích cho gia đình và xã hội.

[6] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Do kháng cáo của các bị cáo Đinh Thị H, Bùi Văn Đ, Phạm Huy H1, Nguyễn Hoàng A được chấp nhận nên các bị cáo H, bị cáo Đ, bị cáo H1 và bị cáo A không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

  1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đinh Thị H, Bùi Văn Đ, Nguyễn Hoàng A; Chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Quang H3 là người đại diện theo pháp luật của bị cáo Phạm Huy H1, ông Nguyễn Văn T1 là người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Hoàng A sửa bản án sơ thẩm số 20/2025/HS-ST ngày 29-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình.

  2. Tuyên bố bị cáo Đinh Thị H, Bùi Văn Đ, Phạm Huy H1, Nguyễn Hoàng A phạm tội “Giữ người trái pháp luật” và tội “Cướp tài sản”.

    1. Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Đinh Thị H 12 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”; Căn cứ điểm d, h khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o, h Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Đinh Thị H 08 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 09 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 30 ngày 07-3-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định, buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 24 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt bị cáo đi chấp hành án.

    2. Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Bùi Văn Đ 06 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”; Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Bùi Văn Đ 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”; Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 01-4-2025.

    3. Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Huy H1 06 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”; Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Huy H1 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”; Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo H1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 01-4-2025.

    4. Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Hoàng A 06 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”; Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Hoàng A từ 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”; Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo Hoàng A phải chấp hành hình phạt cho cả hai tội là 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 01-4-2025.

  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Đinh Thị H, Bùi Văn Đ, Phạm Huy H1, Nguyễn Hoàng A không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND - CA tỉnh Ninh Bình;
  • - TAND-VKS khu vực 8 - Ninh Bình;
  • - Phòng THADS khu vực 8 - Ninh Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Văn Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2025/HS-PT ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về hình sự: giữ người trái pháp luật và cướp tài sản

  • Số bản án: 91/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Giữ người trái pháp luật và Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Thị H và đồng phạm - Tội "Giữ người trái pháp luật" và "Cướp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger