TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2026/DS - PT
Ngày : 28/01/2026
V/v: “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất ”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Bình
Các thẩm phán: Ông Vũ Viết Văn
Bà Nguyễn Thị Tâm
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 28/01/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý 826/2025/TBTL-TA ngày 08 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”; Do bản án dân sự sơ thẩm số 289/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 966/2025/QĐ-PT ngày 16/12/2025 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1977. Có mặt
- Nơi cư trú: Số B P, phường B, thành phố Hà Nội
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Anh T: Ông Nguyễn Tuấn D – Luật sư Công ty L1, Có mặt
- * Bị đơn: Ông Dương Quốc C, sinh năm 1976. Vắng mặt
- Nơi cư trú: Thôn P, xã S, thành phố Hà Nội
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- 1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1979, Có mặt
- 2. Anh Dương Quốc M, sinh năm 2004, Vắng mặt
- 3. Chị Dương Thị Hồng Y, sinh năm 2000, Vắng mặt
- 4. Ông Lương Văn T1, sinh năm 1984, Vắng mặt
- Cùng cư trú: Thôn P, xã S, thành phố Hà Nội
- Người đại diện theo uỷ quyền của ông Dương Quốc C, chị Dương Thị Hồng Y và anh Dương Quốc M: Bà Nguyễn Thị H. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản trong quá trình tố tụng, ông Nguyễn Anh T trình bày như sau:
Ngày 24/12/2003 ông Nguyễn Tiến D1 được cấp một (01) Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất (GCNQSDĐ số V 754984, số vào sổ cấp GCN: 00855.QSDĐ, do UBND huyện S cấp ngày 24/12/2003. Địa chỉ thửa đất tại P, P, S, Hà Nội mang tên chủ sử dụng là hộ ông Nguyễn Tiến D1 (bố đẻ tôi), số tờ bản đồ 06, số thửa 59b, diện tích 223 m2 đất ở, lâu dài. Bố tôi hiện đã mất. Tôi đã nhận di sản thừa kế là một phần quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Tiến D1 để lại theo văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số: 612 lập ngày 22/08/2020 tại Văn phòng C1, TP Hà Nội. Cho tặng toàn bộ quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Anh T, sinh năm 04/11/1977, có CMND số 011878897 cấp ngày 13/05/2014, (số CCCD 001077029319 do CCS về TTXH cấp ngày 21/04/2021), địa chỉ: Số B P, T, B, Hà Nội theo Hợp đồng số 611 lập ngày 22/08/2020 tại Văn phòng C1, TP H. Hồ sơ số: 200825-0019. Tôi đã được UBND huyện S chứng nhận chủ sở hữu vào ngày 09/09/2020.
Thửa đất của tôi có địa chỉ Ngõ A sau Ủy ban, thôn P, P, S, Hà Nội là căn góc 2 mặt tiền có hai mặt tiếp giáp 2 đường đi của ngõ xóm và hai mặt còn lại giáp ranh với 02 gia đình hàng xóm (tôi tìm hiểu thì được biết hiện nay đất của 02 hàng xóm giáp ranh thửa đất của tôi chưa được cấp GCNQSDĐ). Tháng 4/2024 tôi phát hiện bên hàng xóm có thửa đất giáp ranh với một bức tường nhà tôi là hộ anh C chị H đã xây lấn chiếm trái phép sang phần đất của tôi. Để xác định rõ chính xác phần đất bị thiếu hụt, chiếm dụng bất hợp pháp là do bên nào xâm phạm, tôi tiến hành mời đơn vị đo đạc có đủ tư cách pháp nhân là Công ty TNHH Đ lập Hồ sơ kỹ thuật thửa đất của tôi. Theo kết quả đo đạc thực địa thửa đất hiện nay là 210,6 m2, giảm 12,4m2 so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 754984, số vào sổ cấp GCN: 00855.QSDĐ, do UBND huyện S cấp ngày 24/12/2003 có diện tích là 223m2. Anh C, chị H đã tiến hành xây tường bao xung quanh khu đất cao khoảng 1.5m và bức tường mới này đã được xây chồng lên phần bức tường bao cũ có diện tích dài rộng 4,84 m2 (chiều dài 24.21 m x chiều rộng là 20 cm = 4,84 m2) đã tồn tại nhiều năm của tôi, là phần đất của nhà tôi, do nhà tôi xây trên phần đất của tôi nhằm xác định làm tường bao, mốc giới phân định ranh giới thửa đất với hàng xóm. Tôi đã qua nhà anh chị Cương H1 trao đổi, chỉ rõ, việc bức tường mới đã được xây đè bất hợp pháp trên phần bức tường bao cũ của tôi, trên nền đất của tôi và yêu cầu dỡ bỏ trả lại hiện trạng phần đất và tường cũ của nhà tôi nhưng sự việc chưa được giải quyết.
Do có phát hiện thiếu hụt đất so với GCNQSD đất, tôi đã làm đơn “Đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai” gửi ra UBND xã P, đề nghị xã P giải quyết tranh chấp, hòa giải, nhằm khôi phục lại nguyên trạng tường mốc giới đã xây dựng từ trước đang bị xâm phạm bất hợp pháp bởi chủ thể trên trả lại nguyên trạng diện tích đất tôi đã được nhà nước cấp, để tôi yên tâm sở hữu tài sản đúng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện S cấp ngày 24/12/2003 là 223m2 và theo đúng quy định của Pháp luật. Ngày 23 tháng 07 năm 2024 UBND xã đã thành lập hội đồng hòa giải mời tôi và các bên liên quan gồm lãnh đạo UBND, MTTQ, Đoàn thể, Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, trưởng xóm, Công an, địa chính và các bên liên quan tranh chấp đến U, chủ trì hội nghị bà Nguyễn Thị H2 –Phó chủ tịch Xã. Trong cuộc họp hòa giải này tôi giữ nguyên quan điểm theo như nội dung đơn nêu ở trên. Về phần đất phía Đông
2
giáp ranh với hộ ông bà Cương Hương lấn chiếm của tôi 4,84 m2 bà Nguyễn Thị H2 kết luận “Qua quá trình làm việc căn cứ vào bản đồ địa chính năm 1993, căn cứ GCNQSDĐ ông T cung cấp xác định không đủ cơ sở, căn cứ để xác định tranh chấp đất đai giữa ông T và hộ ông bà C, Hl.”. Kết luận chung của phiên hòa giải tranh chấp đất đai kết thúc vào hồi 16 giờ 40 phút, ngày 25 tháng 07 năm 2024 tại UBND xã P là Hòa giải không thành. Với kết luận này đã không bảo vệ được quyền lợi của người có GCNQSDĐ hợp pháp do UBND Huyện S cấp cho tôi.
Ngoài các tài liệu tôi đã cung cấp cho Toà án, đến nay tôi không cung cấp cho Toà án chứng cứ, tài liệu nào khác.
Để được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được nhà nước cấp GCNQSDĐ trước các bên xâm chiếm bất hợp pháp và chưa có GCCQSDĐ. Tôi đề nghị TAND khu vực 7 – Hà Nội:
- - Buộc ông bà C, H1 phải trả lại tôi phần đất đã lấn chiếm xây dựng trái phép là 4,84m2, buộc ông C phải tháo dỡ phần tường mới đã xây đè lên tường cũ trước đó của nhà tôi.
* Tại bản tự khai ngày 28/11/2024, bị đơn ông Dương Quốc C trình bày:
Tôi hiện là chủ sử dụng thửa đất liền kề với thửa đất của gia đình ông Nguyễn Anh T. Nguồn gốc thửa đất là do vợ chồng tôi nhận chuyển nhượng của ông Lương Văn T1 từ thời điểm năm 2006. Vợ chồng tôi sử dụng từ năm 2006 đến nay, không thay đổi về hiện trạng và mặt bằng của thửa đất. Khoảng tháng 4/2024, gia đình tôi có xây dựng tường rào chồng lên phần móng tường đã sẵn có từ khi nhận chuyển nhượng.
Ông Nguyễn Anh T là hộ liền kề có đơn kiện gia đình tôi lấn chiếm đất đai và đã được UBND xã tổ chức hoà giải không thành do ông T không đồng ý với ý kiến của ban hoà giải xã.
Từ những lý do liên quan nêu trên tôi xin có một số quan điểm như sau:
- - Gia đình tôi không lấn chiếm đất vì hiện trạng sử dụng vẫn đúng với giấy tờ mua bán về kích thước, cạnh thửa và diện tích.
- - Việc ông Nguyễn Anh T khiếu kiện gia đình tôi lấn chiếm đất đai nhưng không đưa ra được bằng chứng, chứng cứ cụ thể rõ ràng theo quy định là hành động vu khống người khác gây hoang mang về tinh thần trong gia đình tôi.
Đề nghị quý toà xác minh sự việc cụ thể để giải quyết sự việc dứt điểm theo quy định của pháp luật.
* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
1. Bà Nguyễn Thị H trình bày:
Tôi là vợ của anh Dương Quốc C. Ngày 20/4/2006, vợ chồng tôi có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Lương Văn T1 có nơi cư trú tại thôn P, xã P, huyện S, Hà Nội.
Về nguồn gốc thửa đất: Thửa đất tôi nhận chuyển nhượng của ông Lương Văn T1 (tôi không biết số thửa và số tờ bản đồ) có nguồn gốc là trước đây Hợp tác xã giao cho bà Phạm Thị L có nơi cư trú tại thôn P, xã P, huyện S, Hà Nội. Sau đó, do bà L không có nhu cầu sử dụng đã chuyển nhượng cho anh Lương Văn T1 ở cùng địa chỉ. Ngày 20/4/2006, anh Lương Văn T1 đã chuyển nhượng thửa đất trên cho vợ chồng tôi.
3
Thửa đất vợ chồng tôi nhận chuyển nhượng của anh Lương Văn T1 diện tích 122m2 có các cạnh tiếp giáp như sau:
- - Phía Đông giáp với đất bà L: 24,4m (tôi không biết đất ông N hay bà L)
- - Phía Tây giáp đất ông D1, bà Q (đất anh T): 24,4m
- - Phía Nam giáp đường bê tông thôn: 5m
- - Phía Bắc giáp đất ông Q1: 5m
Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất nêu trên vợ chồng tôi đã nhà tạm khoảng hơn 20m2 và xây 3 bức tường giáp đất anh T, giáp đất ông N và giáp đường bê tông thôn.
Khi vợ chồng tôi nhận chuyển nhượng đã có bức tường giáp với đất anh T và khi nhận mốc giới đã bao gồm cả bức tường giáp với đất anh T.
Nay anh T cho rằng vợ chồng tôi đã lấn sang phần đất của anh T với diện tích là 4,84m2 (toàn bộ bức tường giáp ranh giữa hai đất) là không chính xác vì khi vợ chồng tôi nhận chuyển nhượng đã bao bức tường giáp ranh với đất của anh T và hiện tại diện tích đất của vợ chồng tôi nhận chuyển nhượng đủ 122m2 nên vợ chồng tôi không đồng ý với yêu cầu của anh T. Đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp Luật. Ngoài tài liệu tôi cung cấp cho toà án thì tôi không cung cấp được tài liệu nào khác cho Toà án.
2. Ông Lương Văn T1 trình bày:
Năm 2006, tôi có mua quyền sử dụng thửa đất tại khu sau UBND xã Phù Linh cũ của bà Phạm Thị L, thửa đất này không có tên trong bản đồ địa chính. Bà L bán cho tôi diện tích 122m2 có các cạnh như sau:
- - Phía Đông giáp đất bà L 24,4m
- - Phía Tây giáp đất ông D1, bà Q 24,4m
- - Phía Nam giáp đường bê tông 5m
- - Phía Bắc giáp đất ông Q1 5m
Sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất của bà L, tôi đã xây tường bao xung quanh thửa đất để bảo vệ mốc giới.
Tôi khẳng định bức tường giáp ranh với đất ông D1, bà Q (hiện tại là đất của anh T) là do tôi xây từ năm 2006.
Vào khoảng tháng 4 năm 2006, do không có nhu cầu sử dụng nên tôi đã chuyển nhượng thửa đất trên cho vợ chồng anh C, chị H. Các giao dịch về thửa đất này đều bằng giấy tờ viết tay. Hiện tại tôi không có quyền và nghĩa vụ gì đối với thửa đất đang tranh chấp. Việc ông T khởi kiện vợ chồng ông C, bà H về tranh chấp ranh giới, tôi không có ý kiến gì. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Với nội dung trên Bản án dân sự sơ thẩm số 179/2024/DSST ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đã xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Anh T đối với ông Dương Quốc C về việc buộc ông Dương Quốc C phải trả diện tích đất 4,84m2.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền thi hành án của các đương sự.
4
Không đồng ý với bản án dân sự sơ thẩm nguyên đơn ông Nguyễn Anh T, kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 289/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7, thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Anh T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn sau khi phân tích, đánh giá, đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm theo hướng:
Diện tích thửa đất số 59b, tờ bản đồ số 06, tại thôn P, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội (nay là thôn P, xã S, thành phố Hà Nội) của ông Nguyễn Anh T thực tế đang bị thiếu so với diện tích ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Thửa đất này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cần phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chủ sử dụng đất; Thửa đất đã làm thủ tục biến động và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận; Thửa đất được nộp thuế đầy đủ từ trước đến nay. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
1. Về tố tụng:
Ông Nguyễn Anh T kháng cáo bản án sơ thẩm số 289/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7, thành phố Hà Nội là trong thời hạn kháng cáo. Ông Nguyễn Anh T đã nộp án phí phúc thẩm do vậy kháng cáo của ông Nguyễn Anh T hợp lệ về hình thức.
Tại cấp phúc thẩm Hội đồng xét xử, Thẩm phán và thư ký đã tiến hành tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, thư ký Tòa án: Các thẩm phán tham gia phiên tòa và thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.
- - Về thẩm quyền: Bản án sơ thẩm số 289/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Căn cứ Điều 38 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án thành phố Hà Nội đã thụ lý phúc thẩm và giải quyết đúng thẩm quyền.
- - Về thụ lý và thông báo thụ lý: Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán đã Thông báo việc thụ lý cho đương sự và VKS theo đúng qui định tại điều 285 BLTTDS.
- - Triệu tập đầy đủ những người tham gia tố tụng theo quy định tại điều 294 BLTTDS
- - Trình tự diễn biến tại phiên tòa đúng theo các quy định tại điều 297, điều 298, điều 302, điều 303, điều 305, điều 306 của BLTTDS;
2. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng
Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, điều 71, điều 72, điều 73 BLTTDS năm 2015.
3. Về nội dung vụ án
5
Sau khi phân tích, đánh giá về nội dung vụ án Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
- - Căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTS, sửa một phần bản án DSST số 289/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7, thành phố Hà Nội về án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo trong thời hạn luật định. Ông Nguyễn Anh T đã nộp án phí phúc thẩm. Vì vậy, kháng cáo là hợp lệ về hình thức.
[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn nhận thấy:
Thửa đất số 59b, tờ bản đồ số 06, tại thôn P, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội (nay là thôn P, xã S, thành phố Hà Nội) của ông Nguyễn Anh T hiện không có công trình trên đất. Thửa đất do vợ chồng ông Dương Quốc C và bà Nguyễn Thị H đang quản lý, sử dụng đã xây dựng công trình trên toàn bộ thửa đất gồm: nhà tạm diện tích 34,5m2, tường bao, cổng. Thửa đất số số 59b, tờ bản đồ số 06, tại thôn P, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội (nay là thôn P, xã S, thành phố Hà Nội) của ông Nguyễn Anh T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất do vợ chồng ông Dương Quốc C và bà Nguyễn Thị H đang quản lý, sử dụng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước khi khởi kiện nguyên đơn kiểm tra mốc giới, đo lại diện tích thấy thiếu đất nên hai bên phát sinh tranh chấp. Xét qua lời trình bày của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy.
Toà án cấp sơ thẩm nhận định:
[2.1] Về nguồn gốc đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Thửa đất số số 59b, tờ bản đồ số 06, tại thôn P, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội (nay là thôn P, xã S, thành phố Hà Nội) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 754984, số vào sổ cấp GCN: 00855.QSDĐ, do UBND huyện S cấp ngày 24/12/2003 cho ông Nguyễn Tiến D1. Ông Nguyễn Tiến D1 để lại cho ông Nguyễn Anh T theo văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số: 612 lập ngày 22/08/2020 tại Văn phòng C1, TP Hà Nội và Hợp đồng số 611 lập ngày 22/08/2020 tại Văn phòng C1, TP Hà Nội. Ông Nguyễn Anh T đã đăng ký biến động ngày 09/09/2020.
Tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên có hình thể thửa đất nhưng không có kích thước của từng cạnh.
Thửa đất do vợ chồng ông C đang quản lý, sử dụng được nhận chuyển nhượng của ông Lương Văn T1 có nguồn gốc là trước đây Hợp tác xã giao cho bà Phạm Thị L có nơi cư trú tại thôn P, xã P, huyện S, Hà Nội. Sau đó, do bà L không có nhu cầu sử dụng đã chuyển nhượng cho anh Lương Văn T1.
Kết quả trích đo hiện trạng thửa đất do cơ quan chuyên môn đo hồ sơ kỹ thuật thửa đất thể hiện trên cơ sở các đương sự tự xác định mốc giới:
- - Thửa đất số 59b, tờ bản đồ số 32 của ông Nguyễn Anh T có kích thước như
6
sau:
- + Phía Đông Bắc giáp đường bê tông: 23,92m.
- + Phía Tây Bắc giáp đường ngõ: 9,19m.
- + Phía Tây Nam giáp đất anh C: 24,18m.
- + Phía Đông Nam giáp đất ông T2, T3: 9,21m.
Tổng diện tích 221m2.
Thửa đất do vợ chồng ông Dương Quốc C thể hiện như sau:
- + Phía Đông Bắc giáp đất ông T: 23,75m.
- + Phía Tây Bắc giáp đường ngõ: 5,00m.
- + Phía Tây Nam giáp đất ông N: 23,83m.
- + Phía Đông Nam giáp đất ông T2, T3: 5,01m.
Tổng diện tích 119,0m2.
Thửa đất do anh T chỉ mốc giới và xác định vị trí tranh chấp có kích thước như sau:
- + Phía Đông Bắc giáp đường bê tông: 23,92m.
- + Phía Tây Bắc giáp đường ngõ: 9,39m.
- + Phía Tây Nam giáp đất anh C: 24,18m.
- + Phía Đông Nam giáp đất ông T2, T3: 9,41m.
Tổng diện tích 225,84m2.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành đo đạc thực tế được thể hiện trên Bản trích đo địa chính ngày 12/9/2025 của Công ty TNHH T4 xác định: Thửa đất số 59b, tờ bản đồ số 06 của nguyên đơn trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 223.0m2 qua đo đạc thực tế có diện tích 221,1m2 và hình thể thửa đất khớp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Qua kết quả đo thì diện tích đất của nguyên đơn đang bị thiếu 1,9m2 nhưng nguyên đơn xác định bị đơn chỉ lấn chiếm phần diện tích tường rào giáp ranh giữa hai thửa đất là 4.84m2 trị giá 72.600.000 đồng. Nguyên đơn cho rằng khi được nhận tặng cho thửa đất trên thì đã có tường rào do bố nguyên đơn xây và tường rào này là ranh giới giữa hai thửa đất đã có từ trước.
[2.3] Xét lời trình bày của bị đơn: Thửa đất của bị đơn (là một phần của thửa đất 59, chưa được tách thửa) có diện tích khi nhận chuyển nhượng là 122m2 qua đo đạc thực tế diện tích 119,0m2, bị thiếu 3m2. Bị đơn khẳng định khi nhận chuyển nhượng thửa đất của ông Lương Văn T1 đã có tường rào bao quanh do ông T1 xây và kích thước chiều rộng của thửa đất đều là 5m do vậy bị đơn xác định không lấn chiếm sang thửa đất của nguyên đơn nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.4] Ông Lương Văn T1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khẳng định ông đã xây tường bao xung quanh thửa đất từ trước khi chuyển nhượng cho vợ chồng ông C. Hiện tại ông T1 không có quyền và nghĩa vụ gì đối với thửa đất đang tranh chấp. Qua xác minh tại địa phương thấy địa phương không cung cấp được hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất do nguyên đơn đang sử dụng và
7
ngoài việc tranh chấp giữa ông T và ông C, địa phương không nhận được đơn thư gì của các hộ xung quang. Văn phòng Đ1 chi nhánh S không lưu trữ hồ sơ liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận đối với thửa đất số 59b, tờ bản đồ số 06 của nguyên đơn, việc đăng ký biến động như nguyên đơn trình bày. Ngoài các tài liệu nguyên đơn, bị đơn đã cung cấp cho Toà án, đến nay các đương sự không có tài liệu chứng cứ nào khác. Qua kiểm tra hiện trạng thực tế thì cả hai thửa đất đều thiếu diện tích; theo mốc giới do nguyên đơn chỉ dẫn để đo đạc, kết quả đo thấy thừa diện tích so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 2,84m2; theo mốc giới do bị đơn chỉ dẫn, kết quả đo đạc thấy thiếu diện tích là 3m2 và chiều rộng 2 cạnh của thửa đất đều là 5m phù hợp với tài liệu chuyển nhượng do bị đơn cung cấp. Việc nguyên đơn cho rằng bức tường giáp ranh giữa hai thửa đất tranh chấp là do bố nguyên đơn xây nhưng nguyên đơn không đưa ra được tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Mặt khác thửa đất do nguyên đơn và bị đơn đang quản lý, sử dụng là một phần của thửa số 59, tờ bản đồ số 06 có tổng diện tích là 11.231m2; thửa đất số 59b, tờ bản đồ số 06 thửa đất của nguyên đơn và thửa đất bị đơn đang quản lý, sử dụng chưa được tách ra từ thửa số 59, tờ bản đồ số 06 nên không có căn cứ để so sánh. Sơ đồ trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 59b, tờ bản đồ số 06 không thể hiện kích thước. Bức tường mới do ông C xây dựng được xây chồng lên bức tường cũ do ông T1 xây dựng theo đúng vị trí và kích thước, bức tường cũ được coi là mốc giới lịch sử để lại nên được coi là ranh giới giữa hai thửa đất. Căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và kết quả đo đạc hiện trạng thấy mốc giới giữa hai thửa đất tranh chấp không có biến động và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do các bên cung cấp.
Toà án cấp sơ thẩm nhận định không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.
[3] Về án phí:
Về án phí dân sự sơ thẩm: Toà án cấp sơ thẩm buộc ông Nguyễn Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền 3.630.000 đồng (Ba triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng) là không đúng, vụ án này phải áp dụng điểm a khoản 2 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án” để tính án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Do vậy HĐXX sửa án sơ thẩm về án phí.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên ông Nguyễn Anh T không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 289/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7, thành phố Hà Nội.
Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Anh T đối với ông Dương Quốc C về việc buộc ông Dương Quốc C phải trả diện tích đất 4,84m2.
Về án phí
- * Án phí dân sự sơ thẩm
8
Ông Nguyễn Anh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ông T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0072752 ngày 30/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, được trừ vào tiền án phí.
- * Án phí dân sự phúc thẩm:
Trả lại ông Nguyễn Anh T 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, ông T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0013025 ngày 22/10/2025 tại thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Bản án phúc thẩm xét xử công khai và có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhân
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Lê Thanh Bình |
9
Bản án số 90/2026/DS - PT ngày 28/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Số bản án: 90/2026/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
