Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4- ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2025/HS-ST

Ngày: 29-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- ĐÀ NẴNG, TP. ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Cương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Văn Truyện

Bà Lê Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Dung – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4-Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng mở phiên toà công khai xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Phan Văn P, sinh ngày 01/01/1999 tại thành phố Đà Nẵng; giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố V, phường L, TP Đà Nẵng; Số căn cước công dân: 048099001089 cấp ngày 15/7/2024; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ giáo dục phổ thông: 05/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Đ và bà Lê Thị T (cả 2 đều còn sống); Tiền sự: Không.

- Tiền án: Ngày 19/7/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng (cũ) xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 39/2019/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/5/2023, chấp hành xong án phí HSST ngày 24/12/2019.

- Nhân thân:

  • + Ngày 11/01/2016 bị Tòa án nhâ dân quận L, thành phố Đà Nẵng (cũ) xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Khoản 2 Điều 104 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 tại Bản án số 04/2016/HS-ST (chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 28/8/2018, chấp hành xong án phí HSST vào ngày 05/5/2016 , khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi).
  • + Ngày 02/7/2018, bị Công an huyện H, TP Đà Nẵng (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000 đồng, về hành vi “gây thiệt hại đến tài sản của người khác” theo Quyết định số 64/QĐ-XPHC.
  • + Ngày 21/9/2019, bị Công an huyện H, TP Đà Nẵng (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” theo Quyết định số 32/QĐ-XPHC.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 16/10/2025, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Văn P là đối tượng thuộc diện quản lý cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định số 644/QĐ-UBND ngày 26/12/2024 của UBND xã H, huyện H, TP . cũ (nay là phường L, TP .) trong thời hạn 01 năm kể từ ngày 25/12/2024 đến ngày 25/12/2025. Vào lúc 07 giờ ngày 30/7/2025, Công an phường L, TP Đà Nẵng mời Phan Văn P đến làm việc và kiểm tra việc chấp hành cai nghiện ma túy thì phát hiện Pháp dương tính với ma túy loại Methaphetamine, MDMA và Ketamine.

Quá trình điều tra, xác định như sau: Vào khoảng 22 giờ ngày 26/7/2025, Phan Văn P được người tên H và 03 người khác (không rõ nhân thân lai lịch) rủ đi nghe nhạc tại quán T1 trên đường B, TP .. Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi P chuẩn bị đi về nhà thì được H cho một ít ma túy (Theo P khai gồm các loại ma túy: Thuốc lắc, katamine, nước vui) về để sử dụng. Sau khi có ma túy, P gọi 01 xe ôm công nghệ (G) đứng sẵn tại trước quán Top TV để chở P về lại nhà của mình. Trên đường về, khi đến đoạn đường N, thuộc phường L, TP ., Pháp nói tài xế dừng lại để P xuống xe rồi một mình đi bộ vào khu vực bụi rậm trên đường N (không xác định được vị trí). Sau đó, P lấy số ma túy ra và sử dụng một mình hết bằng hình thức hít vào đường mũi và uống vào đường miệng.

Tại Bản kết luận giám định số 1295/KL-KTHS ngày 14/8/2025 của Phân Viện Khoa học hình sự TP Đà Nẵng kết luận: Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine, MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu của Phan Văn P.

Ngày 16/10/2025, Cơ quan điều tra tiến hành xét nghiệm (test) chất ma túy trong cơ thể đối với Phan Văn P cho kết quả dương tính với ma túy nên Cơ quan điều tra tiến hành thu mẫu nước tiểu để gửi giám định. Tại Bản kết luận giám định số 1102/KL-KTHS ngày 27/10/2025 của Phòng K Công an tại TP Đà Nẵng kết luận: Trong mẫu nước tiểu gửi giám định kí hiệu P không tìm thấy chất ma túy.

Vật chứng tạm giữ:

  • 02 que xét nghiệm hình chữ nhật, được niêm phong.
  • 01 đĩa DVD chứa dữ liệu buổi hỏi cung có ghi âm ghi hình của bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 09/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Phan Văn P về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025).

Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn P đã khai nhận hành vi sử dụng nhiều loại chất ma túy như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự là đúng tội, không oan. Bị cáo đã nhận thấy sai trái, ăn năn hối cải, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo được sớm hòa nhập cộng đồng.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phan Văn P về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025), đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).
  • - Xử phạt bị cáo Phan Văn P mức án từ 02 năm 09 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • - Về xử lý vật chứng: Đối với 02 que xét nghiệm hình chữ nhật, được niêm phong và 01 đĩa DVD chứa dữ liệu buổi hỏi cung có ghi âm ghi hình của bị can là chứng cứ nên đề nghị lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
  • - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên toà, bị cáo Phan Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong suốt quá trình điều tra, truy tố cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Phan Văn P là đối tượng đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định số 644/QĐ-UBND ngày 26/12/2024 của UBND xã H, huyện H, TP . (nay là phường L, TP .) trong thời hạn 01 năm từ ngày 25/12/2024 đến ngày 25/12/2025 nhưng P không từ bỏ được ma túy. Vào khoảng 23 giờ 30' ngày 26/7/2025, tại khu vực đường N, phường L, TP Đà Nẵng, Phan Văn P đã có hành vi sử dụng trái phép cùng lúc nhiều loại chất ma túy bằng hình thức hít vào đường mũi và uống vào đường miệng. Tại Bản kết luận giám định số 1295/KL-KTHS ngày 14/8/2025 của Phân Viện Khoa học hình sự TP.Đà Nẵng kết luận: Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine, MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu của Phan Văn P.

Như vậy, bị cáo Phan Văn P là đối tượng đang đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025) như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội của địa phương, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về tinh thần, thể chất, nòi giống dân tộc, làm gia tăng nhiều tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Do đó, đối với bị cáo cần xử phạt thỏa đáng để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng: Bị cáo có nhân thân rất xấu đã nhiều lần bị xét xử và bị xử lý hành chính, trong đó có 01 tiền án chưa được xóa án tích, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 02 que xét nghiệm hình chữ nhật, được niêm phong và 01 đĩa DVD chứa dữ liệu buổi hỏi cung có ghi âm ghi hình của bị cáo là chứng cứ nên cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

[6] Về án phí: Bị cáo Phan Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Đối với đối tượng tên H cho ma túy để P sử dụng, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 256a; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).
  2. Tuyên bố bị cáo Phan Văn P phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Phan Văn P 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, ngày 16/10/2025.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
  4. Tuyên: Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 02 que xét nghiệm hình chữ nhật, được niêm phong và 01 đĩa DVD chứa dữ liệu buổi hỏi cung có ghi âm ghi hình của bị cáo (Vật chứng hiện đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án).

  5. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án:
  6. Buộc bị cáo Phan Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND Khu vực 4- Đà Nẵng;
  • - Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP Đà Nẵng (ĐTV Trương Thanh Hùng)
  • - Cơ quan THAHS CATP (PC10);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CATPĐN (PV06)
  • - Phòng thi hành án dân sự khu vực 4-Đà Nẵng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Văn Cương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- ĐÀ NẴNG, TP. ĐÀ NẴNG về sử dụng trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 90/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- ĐÀ NẴNG, TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Văn Pháp sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger