|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 89/2026/HS-PT Ngày 03-02-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.
Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Lộc;
Ông Nguyễn Hữu Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hương Trầm - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 11/2026/TLPT-HS ngày 07 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo Lê Thị Mộng T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 119/2025/HS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Thị Mộng T, sinh năm 1982, tại tỉnh Tiền Giang; nơi thường trú: ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là xã B, tỉnh Vĩnh Long); tạm trú: Khu chung cư B, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn L (đã chết) và bà Ngô Thị V; bị cáo có chồng tên Kim Thế V1 và 01 con sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: không; bị cáo áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị hại, 02 người đại diện hợp pháp của bị hại không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị Mộng T được Sở Giao thông Vận tải tỉnh B (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) cấp Giấy phép lái xe hạng A1 số 741091004925 ngày 10/7/2016, có giá trị sử dụng không thời hạn.
Khoảng 06 giờ ngày 07/7/2024, bị cáo Lê Thị Mộng T điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 84L1-101.52, lưu thông trên đường NL17 theo hướng từ đường M - T đến đường DL14. Khi bị cáo T điều khiển xe đi đến đoạn đường NL17 thuộc khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), do không chú ý quan sát nên đã va chạm với ông Trịnh Văn B, đang đi bộ dưới lòng đường ở phía trước bên phải cùng chiều xe bị cáo T lưu thông, gây tai nạn giao thông. Tai nạn xảy ra làm ông B và bị cáo T bị thương, được người dân đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B.
Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường:
- Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, được đổ nhựa bằng phẳng, tầm nhìn lái xe không bị che khuất, có vạch kẻ đơn, đứt quãng màu vàng ở giữa chia đường thành 02 hướng chạy ngược chiều nhau. Chiều rộng cả mặt đường là 12m. Chiều rộng nửa mặt đường là 06m, được chia thành hai làn đường bởi vạch kẻ màu trắng đứt quảng (làn đường liền kề với lề rộng 03m, làn đường liền kề với vạch kẻ tim đường rộng 03m).
Theo Biên bản khám nghiệm phương tiện:
- Dấu vết để lại trên xe mô tô biển số 84L1-101.52 sau va chạm: Vị trí vè nhựa trước mặt trên bề mặt láng không bám bụi có kích thước 0,08m x 0,03m, cách mặt đường khi xe đứng là 0,63m. Mặt nạ nhựa trước bị nứt có kích thước 0,18m x 0,01m, cách mặt đường khi xe đứng là 0,65m x 0,79m. Vết sây sát láng không bám bụi mặt ngoài ốp nhựa đèn chiếu sáng kích thước 0,04m x 0,06m, cách mặt đường 0,93m x 0,99m.
- Dấu vết để lại trên xe mô tô biển số 84L1-101.52 khi ngã nghiêng bên trái tiếp xúc với mặt đường: Mòn đầu tay cầm kim loại, ốp tay cầm cao su bên trái. Mòn đầu gác chân kim loại, ốp gác chân cao su bên trái.
- Ghi nhận an toàn kỹ thuật của phương tiện: Qua kiểm tra các cụm chi tiết đèn, phanh, lái được lắp đầy đủ, đúng vị trí. Hệ thống đèn và phanh hoạt động bình thường.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 84L1-101.52.
Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 620/2024/KLGĐ-TTPY, ngày 08/10/2024 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh B (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trịnh Văn B tại thời điểm giám định là 99% (căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần).
Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 123/2025/KLGĐ-TTPY ngày 03/3/2025 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh B (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thị Mộng T tại thời điểm giám định là 14% (căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần).
Theo Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu ngày 07/7/2024 của Bệnh viện Đ: Định lượng Ethanol (cồn) trong máu của nạn nhân Trịnh Văn B là 0.0mg/100ml.
Theo Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu ngày 07/7/2024 của Bệnh viện Đ: Định lượng Ethanol (cồn) trong máu của Lê Thị Mộng T là 0.0mg/100ml.
Quá trình điều tra, bị cáo Lê Thị Mộng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo T phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo T khai: Ngay trước khi xảy ra tai nạn, bị cáo T điều khiển xe trong trạng thái buồn ngủ do mới tan làm ca đêm nên không chú ý quan sát dẫn đến gây ra tai nạn.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Thị Mộng T đã bồi thường cho bị hại Trịnh Văn B số tiền 5.000.000 đồng. Bà Lê Thị H là người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo Lê Thị Mộng T phải tiếp tục bồi thường chi phí điều trị cho bị hại Trịnh Văn B số tiền 295.000.000 đồng.
* Về xử lý vật chứng: Ngày 15/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) giao trả xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 84L1-101.52 cho bị cáo Lê Thị Mộng T.
Tại Cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 16/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Thị Mộng T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2025/HS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
- Tuyên bố bị cáo Lê Thị Mộng T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt:
2.1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025;
Xử phạt bị cáo Lê Thị Mộng T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, bị cáo Lê Thị Mộng T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa, bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án:
Về thời hạn kháng cáo đúng quy định nên Tòa án nhân dân dân Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nội dung: Bị cáo điều khiển xe kkông chú ý quan sát dẫn đến gây tai nạn giao thông làm bị hại Trịnh Văn B bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 99%. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định của Luật Giao thông đường bộ, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo nộp thêm 10.000.000 đồng khắc phục hậu quả cho bị hại. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Tuy nhiên, cũng cần xem xét về việc áp dụng hình phạt cho bị cáo vì khi vụ việc xảy ra, bị hại cũng có một phần lỗi, bị cáo cũng bị thương tích ở vùng đầu nên sức khỏe bị ảnh hưởng nhiều, thường xuyên phải tái khám và điều trị.
Bị cáo không tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo hiện tại thường xuyên phải tái khám và lấy thuốc điều trị não nên bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm, có đủ cơ sở xác định: khoảng 06 giờ ngày 07/7/2024, bị cáo Lê Thị Mộng T điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 84L1-101.52, lưu thông trên đường NL17, khi đến khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), do không chú ý quan sát nên đã va chạm với ông Trịnh Văn B đang đi bộ dưới lòng đường ở phía trước bên phải cùng chiều xe bị cáo T lưu thông, gây tai nạn giao thông. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 5 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ 2008 dẫn đến hậu quả làm bị hại Trịnh Văn B bị tổn thương cơ thể 99%, bị cáo bị tổn thương cơ thể 14%. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Thị Mộng T về tội danh, điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy: mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp; tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 như: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại cũng có một phần lỗi khi lưu thông không đúng làn đường quy định; tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại với số tiền 10.000.000 đồng; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà căn cứ Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Sửa Bản án sơ thẩm số 119/2025/HS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh.
[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là không cùng quan điểm của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[5] Tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng bị cáo Lê Thị Mộng T nộp khắc phục hậu quả theo Biên lai thu tiền số 0001919 ngày 02/02/2026 tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo thi hành án.
[6] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Mộng T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 119/2025/HS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Thị Mộng T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 03 tháng 02 năm 2026).
Giao bị cáo Lê Thị Mộng T cho Ủy ban nhân dân phường T, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Tạm giữ số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng của bị cáo Lê Thị Mộng T nộp theo Biên lai thu tiền số 0001919 ngày 02/02/2026 tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo thi hành án.
- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Lê Thị Mộng T không phải nộp án phí phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huỳnh Đức |
Bản án số 89/2026/HS-PT ngày 03/02/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)
- Số bản án: 89/2026/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/02/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Sửa bản án sơ thẩm
