|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 89/2026/DSPT Ngày: 05-02-2026 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thơ Hiền;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng và bà Lưu Thị Thu Hường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hà, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Linh Byă, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 409/2025/TLPT – DS ngày 10 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 38/2025/DSST ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 497/2025/QĐ-PT ngày 16/12/2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Hồ Văn L, sinh năm 1959. Địa chỉ: C Q, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Nơi ở hiện nay: 49 đường A, thôn A, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
* Bị đơn: Ông Đặng Xuân T, sinh năm 1957. Địa chỉ: C Q, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đặng Xuân T có: Ông Nguyễn Tiến T1 – Luật sư V1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Địa chỉ: C N, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1954. Địa chỉ: C Q, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
* Người làm chứng:
+ Ông Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1969. Địa chỉ: 2 P, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
+ Ông Mai Anh C, sinh năm 1957. Địa chỉ: C Q, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
* Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Hồ Văn L, bị đơn Đặng Xuân T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Hồ Văn L trình bày:
Ông L đang sử dụng thửa đất số 100, tờ bản đồ số 06, diện tích 299,7m². Ông Đặng Xuân T trú tại 387 Q sử dụng thửa đất số 101, tờ bản đồ số 06, diện tích 326m². Năm 2002, ông L có xây dựng 4 phòng trọ có chiều dài 14,80m, xây chưa hết đất giáp nhà ông T còn chừa lại khoảng 0,5–0,7cm. Ông L xây hàng rào từ phòng trọ đến mặt đường Q chiều dài 15,5m đúng theo 12m lọt lòng trong sổ đỏ cấp hướng Tây. Ông T xây 3 phòng trọ ốp tường vào 4 phòng trọ của ông L, lấn sang đất của ông khoảng 0,5–0,7cm. Ông T đã đập hàng rào của ông L 10m xây mới và nối vào hàng rào cũ của ông L, hàng rào cũ của ông L còn lại 5,5m. Ngày 29/8/2024, cán bộ địa chính UBND phường T kiểm tra hàng rào cũ của ông L là 12m, ông T là 11,94m đúng mặt tiền không có ai lấn sang ai. Qua thực tế ông T đã đập hàng rào cũ của ông L để xây lại hàng rào mới của ông là 0,10cm và xây phòng trọ dư ra đất của ông. Qua kết quả đo đạc thực tế xác định phần diện tích đất lấn chiếm tổng là 2,3m². Do đó, ông L làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T trả lại phần diện tích đất lấn chiếm là 2,3m². Yêu cầu ông T đập tường rào mới nối vào tường cũ của ông L là 10,28m trả lại đất vì tường cũ của ông là một đường thẳng ra phía sau thuộc đất của ông. Đối với 3 phòng trọ đã chiếm dụng đất yêu cầu đập trả lại đất cho ông.
* Bị đơn ông Đặng Xuân T trình bày:
Nhà ông L xây cách đây mười mấy năm nay, nên giờ gia đình ông xây lại cứ theo tường cũ người ta xây, ông T khẳng định xây theo đúng hiện trạng cũ. Ông không đập không lấn sang phần đất của gia đình ông L. Tường nhà ông L đã xây lấn sang nhà ông mấy chục năm, giờ ông L đòi bảo gia đình ông lấn thì ông không đồng ý. Đất nhà ông phần diện tích chiều dài là 11,94m, gia đình ông xây đúng phần diện tích được nhà nước cấp. Do đó nguyên đơn khởi kiện yêu cầu gia đình ông trả lại phần diện tích đất lấn chiếm thì ông không đồng ý. Đối với yêu cầu của nguyên đơn về đập phần hiện trạng trả lại đất cho nguyên đơn thì ông cũng không đồng ý vì gia đình ông không lấn chiếm đất của nhà ông L.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị N trình bày: Bà là vợ ông Đặng Xuân T. Ông L khởi kiện vợ chồng bà lấn chiếm đất thì bà không đồng ý, vợ chồng bà quản lý sử dụng từ trước đến nay theo đúng hiện trạng và không lấn chiếm của ai. Bà N đồng ý theo ý kiến của ông T và không có ý kiến gì.
* Người làm chứng ông Nguyễn Hoàng H trình bày: Ông là thợ xây cho gia đình ông T. Khi xây dựng nhà và hàng rào nhà ông T ông dựa trên cơ sở bìa quyền sử dụng đất nhà nước cấp cho ông T. Ông khẳng định là đúng theo phần diện tích nhà nước đã cấp cho ông T, không có hành vi lấn chiếm đất của ông L. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2025/DS-ST, ngày 20/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a,c khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 146, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 100, Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013.
Căn cứ: Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Văn L; buộc ông Đặng Xuân T trả lại cho ông Hồ Văn L số tiền 71.442.000 đồng, bao gồm giá trị phần diện tích đất lấn chiếm 2,3m² và một phần tường rào 01 nằm trong thửa đất 101, tờ bản đồ số 06, tại phường T, thành phố B (Nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng khác và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
* Ngày 27/8/2025, bị đơn ông Đặng Xuân T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
* Ngày 04/9/2025, nguyên đơn ông Hồ Văn L kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông T phải tháo dỡ bức tường đã xây dựng trên diện tích đất 2.3m², trả lại đất lấn chiếm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, nội dung kháng cáo.
- Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tranh luận: Kết quả đo đạc, lồng ghép bản đồ địa chính ngày 24/02/2025 do Công ty TNHH Đ thực hiện không có sự chứng kiến của chủ sử dụng đất liền kề thửa 74 là ông Mai Anh C; không có sự hiện trạng sử dụng thực tế ổn định, lâu dài, đã có ranh giữa các bên. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa vợ chồng ông Mai Anh C, bà Trương Thị Lê V tham gia tố tụng là thiếu sót. Hiện trạng bị đơn xây dựng theo ranh tường nhà do nguyên đơn xây dựng từ trước nên không có việc bị đơn lấn chiếm đất nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu ý kiến:
+ Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thư ký, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định. Đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng.
+ Về nội dung: Căn cứ bản vẽ hiện trạng đã được lồng ghép bản đồ địa chính, diện tích tranh chấp 2,3m² nằm trong phần đất đã cấp giấy chứng nhận cho nguyên đơn. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải bồi thường giá trị phần đất lấn chiếm và tường rào của nguyên đơn do bị đơn tháo dỡ là phù hợp quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Hồ Văn L, bị đơn Đặng Xuân T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn ông Hồ Văn L, bị đơn Đặng Xuân T kháng cáo trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, là kháng cáo hợp lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp quyền sử dụng đất tọa lạc tại phường B thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Đòi lại đất lấn chiếm” cũng là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” và có xem xét giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi lấn chiếm đất đã xây dựng nhà ở là đúng yêu cầu khởi kiện trong phạm vi xét xử. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm không áp dụng điều luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự là có thiếu sót nhưng có thể bổ sung, khắc phục được tại cấp phúc thẩm.
[1.3] Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì phần diện tích đang tranh chấp nằm giáp ranh giữa hai thửa 100+237 và 101 cùng tờ bản đồ 6, địa chỉ phường T, thành phố B (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk); không liên quan đến thửa đất số 74. Do đó, TAND Khu vực 1 – Đắk Lắk không đưa chủ sử dụng thửa đất 74 là vợ chồng ông Mai Anh C, bà Trương Thị Lê V tham gia tố tụng là đúng pháp luật. Trường hợp giữa vợ chồng ông T, bà N có tranh chấp với vợ chồng ông C, bà L1 thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác theo quy định pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Căn cứ bản vẽ Trích đo hiện trạng thửa đất do Công ty TNHH Đ thực hiện ngày 24/02/2025, đã lồng ghép với bản đồ địa chính (bút lục 126-129) thể hiện:
- Thửa đất số 100+237, tờ bản đồ số 06 có tổng diện tích đo hiện trạng là 367,4m² có cạnh ngang mặt đường Q là 5,17+6,78=11,95m; cạnh ngang mặt sau giáp chùa H1 là 5,60+4,67+1,68=11,95m.
Đối chiếu với các cạnh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM 142515 (Ông Hồ Văn L): Mặt đường Q, cạnh 1–7, dài 12,02m, thiếu 0,07m (=12,02m-11,95m); mặt sau chiều dài cạnh 4–5 dài 12,11m, thiếu 0,16m (=12,11m-11,95m);
- Thửa đất số 101, tờ bản đồ 06, có diện tích đo hiện trạng là 359m²; có cạnh ngang mặt đường Q là 5,09+6,84 =11,93m; cạnh ngang mặt sau giáp chùa H1 là 5,07+1,60+4,51=11,18m.
Đối chiếu với các cạnh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 827914 (Vợ chồng ông Đặng Xuân T, bà Bùi Thị N): Mặt đường Quảng T3, cạnh 1–8, dài 11,94m, thiếu 0,01m (=11,93m-11,94m); mặt sau, cạnh 4–5, dài 11,11m, thừa 0,07m (=11,18m-11,11m).
[2.2] Diện tích chồng lấn giữa hai thửa 100+237 và 101 là 2,3m²; có cạnh ngang phía Bắc, đường Q là 0,05m, cạnh ngang phía Nam giáp chùa H1 là 0,1m, cạnh dài phía Đông và phía Tây 31,23m; đã lồng ghép với bản đồ địa chính thì diện tích tranh chấp nằm trong thửa 100+237 của nguyên đơn Hồ Văn L.
[2.3] Như vậy, bản án sơ thẩm xác định diện tích 2,3m² đang tranh chấp thuộc thửa 100+237 của nguyên đơn Hồ Văn L là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.
Đối với diện tích lấn chiếm bị đơn đã xây dựng công trình kiên cố, nếu không buộc bị đơn phải tháo dỡ trả đất cho nguyên đơn thì cũng không ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc sử dụng đất của nguyên đơn nên án sơ thẩm không buộc bị đơn phải tháo dỡ công trình xây dựng để trả đất cho nguyên đơn mà buộc bị đơn bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn do lấn chiếm đất với số tiền 71.442.000 đồng là phù hợp pháp luật và kết quả thẩm định giá (bút lục 180). Trong đó: Giá trị diện tích 2,3m² bị lấn chiếm là 69.685.400 đồng; tường rào cũ do ông L xây dựng có giá trị 1.756.260 đồng.
[3] Tại cấp phúc thẩm, bị đơn đề nghị tiến hành xem xét, thẩm định, đo đạc lại bằng máy nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ xác định kết quả đo máy do Công ty TNHH Đ thực hiện ngày 24/02/2025 là không khách quan hoặc có vi phạm pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ án nên bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí tố tụng, gồm chi phí đo đạc 5.450.000 đồng, chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản là 5.300.000 đồng. Tổng là 10.750.000 đồng.
Ông Hồ Văn L đã nộp tạm ứng số tiền 10.750.000 đồng nên ông Đặng Xuân T phải hoàn trả cho ông L số tiền 10.750.000 đồng.
[5] Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Nguyên đơn, bị đơn là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Hồ Văn L, bị đơn Đặng Xuân T; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 38/2025/DSST ngày 20/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk.
[2] Áp dụng: Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 100, 166, 203 Luật Đất đai năm 2013; các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Văn L: Buộc ông Đặng Xuân T bồi thường thiệt hại do hành vi lấn chiếm đất, thanh toán cho ông Hồ Văn L số tiền 71.442.000 đồng (Bảy mươi mốt triệu bốn trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về chi phí tố tụng: Ông Đặng Xuân T phải chịu chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 10.750.000 đồng (Mười triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Ông Hồ Văn L đã nộp tạm ứng số tiền 10.750.000 đồng (Mười triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) nên ông Đặng Xuân T phải hoàn trả cho ông Hồ Văn L số tiền 10.750.000 đồng (Mười triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
3. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm cho ông Đặng Xuân T. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Hồ Văn L.
[4] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: - Vụ GĐKT II – TAND tối cao; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND Khu vực 1 - Đắk Lắk; - THADS tỉnh Đắk Lắk; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Tòa án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lý Thơ Hiền |
Bản án số 89/2026/DSPT ngày 05/02/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 89/2026/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/02/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn kiện đòi đất do bị đơn lấn chiếm. sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện
