| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 88A/2026/DS-PT Ngày: 05 - 02 - 2026 V/v: “Kiện đòi đất bị lấn chiếm” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị My My.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Triết; Ông Lê Trúc Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Việt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 540/2025/TLPT – DS ngày 01 tháng 12 năm 2025, về việc: “Kiện đòi đất lấn chiếm”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 87/2025/DS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 45/2026/QĐ-PT ngày 08/01/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1973; địa chỉ: Số A đường N, phường T, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1971; địa chỉ: Số A T, phường B, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
- Ông Võ Đình D1, sinh năm 1975 - Luật sư thuộc Văn phòng L; địa chỉ: Số B N, phường T, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1988 – Luật sư thuộc Chi nhánh Công ty L1; địa chỉ: Số A Y, xã C, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt) - Bị đơn: Ông Nguyễn Khắc T1, sinh năm 1956 và bà Thành Kim N, sinh năm 1969; cùng địa chỉ: Số A đường N, phường T, tỉnh Đắk Lắk. (đều có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc G, sinh năm 1980; địa chỉ: Số B N, xã Q, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1991; địa chỉ: Số C, đường số C, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm ; địa chỉ: Số A đường N, phường T, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Khắc T3; địa chỉ: Số C, đường số C, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Ông Trần Văn Đ; địa chỉ: Số A đường N, phường T, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Khắc T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
Bà Nguyễn Thị Kim D và các em gái là Nguyễn Thị Ngọc G và Nguyễn Thị Thanh T2 là chủ sử dụng đất tại thửa đất số 227A, tờ bản đồ số 12, diện tích 318,3m2; Địa chỉ: Xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 953832, do UBND thành phố B cấp ngày 05/10/2015.
Nguồn gốc của lô đất: Do bố bà D là Nguyễn Khắc T3 tặng cho vào năm 2015. Lô đất có tứ cận: Phía Đông giáp thửa 221; Phía Tây giáp đường N; Phía Nam giáp thửa 227 A1 của bị đơn; Phía Bắc giáp thửa 227A2.
Trong quá trình sử dụng đất, bị đơn ông Nguyễn Khắc T1, bà Thành Kim N tiến hành xây dựng phần bức tường phía Bắc, và phía Nam dẫn đến việc lấn chiếm phần đất phía sau của bà D, bà G, và bà T2. Đến năm 2023, thì bà D, bà G, và bà T2 phát hiện ra. Phần đất lấn chiếm có diện tích khoảng 40 m2 (Theo đơn khởi kiện), theo kết quả đo đạc là 34,8m2.
* Bị đơn ông Nguyễn Khắc T1, bà Thành Kim N trình bày:
Hiện nay, ông Nguyễn Khắc T1 là người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 296302, tại thửa đất số 227A1, tờ bản đồ số 12, diện tích 188,7m2; địa chỉ: xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Nguồn gốc lô đất: Do ông Nguyễn Khắc T1 nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Khắc T3 vào năm 2015. Vợ chồng ông T1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện vì cho rằng bức tường xây dựng từ năm 2015 không có tranh chấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: Diện tích đất thực tế ông T1, bà N đang quản lý, sử dụng sau khi đã trừ phần diện tích đất đang tranh chấp 34,8m2 là 214,2m2 lớn hơn so với diện tích mà ông T1, bà N nhận chuyển nhượng của ông T3. Trong khi đó diện tích đất mà nguyên đơn đang sử dụng là 280,7m2 thấp hơn so với diện tích trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 318,3m2. Do đó, việc bị đơn lấn chiếm là có căn cứ.
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Khắc T1; Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 82/2025/DS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk về xử lý tài sản trên đất.
[3.1]. Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim D: Buộc bị đơn ông Nguyễn Khắc T1, bà Thành Kim N trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 34,8m2 cho bà Nguyễn Thị Kim D, bà Nguyễn Thị Ngọc G và bà Nguyễn Thị Thanh T2. Buộc ông Nguyễn Khắc T1, bà Thành Kim N phải tháo dỡ, di dời toàn bộ phần tài sản trên đất lấn chiếm.
| Nơi nhận: - Tòa PT TANDTC tại ĐN; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND khu vực 1 – Đắk Lắk; - Phòng THADS khu vực 1; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị My My |
Bản án số 88A/2026/DS-PT ngày 05/02/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về kiện đòi đất bị lấn chiếm
- Số bản án: 88A/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi đất bị lấn chiếm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/02/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Kim D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: + Buộc bị đơn trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 34,8m2. Phần đất lấn chiếm có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất ông K, cạnh dài 4,38m; Phía Tây giáp đất ông T1, cạnh dài 5,24m; Phía Nam giáp đất của tôi (Nguyễn Thị Kim D), cạnh dài 3,79m + 2,46m + 0,68m; Phía Bắc giáp đất của tôi (Nguyễn Thị Kim D), cạnh dài 1,81m + 2.03m + 2,69m + 0,49m; + Buộc bị đơn phá dỡ bức tường cạnh phía Bắc (Chiều dài 1,81m + 2.03m + 2,69m + 0,49m) và Phía N1 (Chiều dài 3,79m + 2,46m + 0,68m).
