Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 - AN GIANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 88/2025/HS-ST

Ngày 26 tháng 12 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đức Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hân – Phó Giám trung tâm y tế Long Xuyên
  2. Ông Nguyễn Tấn Hậu – Hiệu trưởng trường trung học cơ sở Mạc Đĩnh Chi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chúc - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 71/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2025/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Lưu Nguyễn Ngọc P, sinh ngày 10/12/1997 tại phường M, tỉnh An Giang;

cư trú: Số B, khóm T, phường M, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Ngọc P1, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Mai H, sinh năm 1977; có 03 chị em, bị cáo thứ 2; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thanh M, sinh năm 1999 và 01 con sinh năm 2020; tiền án: ngày 08 tháng 6 năm 2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 09 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, ngày 10 tháng 10 năm 2017 chấp hành xong hình phạt tù, đến ngày 06 tháng 6 năm 2025 nộp án phí hình sự; tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 04/6/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam Chợ M. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Phú C, sinh ngày 28 tháng 11 năm 1999 tại phường L, tỉnh An Giang;

nơi thường trú: Số 99/2b, tổ A, khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Tổ 02, khóm T, phường M, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (chết) và Nguyễn Thị L (chết); bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo thứ nhất; bị chưa có vợ con; tiền sự, tiền án: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 04 tháng 6 năm 2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam Chợ M. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Trần Văn D, sinh ngày 03 tháng 11 năm 1996 tại phường L, tỉnh An Giang;

nơi thường trú: số E, khóm T, phường L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc N, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1977; bị cáo có 03 anh em, bị cáo thứ nhất; bị cáo chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Cẩm L2, sinh năm 2001 và có 01 con sinh năm 2023.

- Quá trình nhân thân:

Ngày 22 tháng 10 năm 2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 03 năm tù, về tội “Cướp tài sản”, ngày 31 tháng 8 năm 2015 chấp hành xong. Ngày 20 tháng 11 năm 2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 05 tháng 10 năm 2021 chấp hành xong. Ngày 16 tháng 7 năm 2025, bị Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang, xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Tiền án:

Ngày 31 tháng 01 năm 2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 20 tháng 10 năm 2024 chấp hành xong.

- Tiền sự: Không.

Bị cáo đang chấp hành án tại Phân trại tạm giam C. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Lê Hoàng E, sinh ngày ngày 28 tháng 7 năm 2003 tại phường L, tỉnh An Giang, tỉnh An Giang;

nơi thường trú: Số H, khóm M, phường L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Viễn H1 (chết) và bà Lê Thị Cẩm T, sinh năm 1980; có 03 anh em, bị cáo thứ hai; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 2004 và có 01 con sinh năm 2021; tiền sự, tiền án: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 09 tháng 7 năm 2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam Chợ M. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Em Phạm Hoàng Q, sinh năm 2010; cư trú: Tổ A, khóm T, phường M, tỉnh An Giang;
  • Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1984 và ông Phạm Văn S, sinh năm 1984; Tổ 17, khóm T, phường M, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Phạm Hoàng Q: Bà Phạm Thanh Ái D1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T5, tỉnh An Giang.
  • + Ông Phạm Văn G, sinh năm 2006; cư trú: Tổ A, khóm T, phường M, tỉnh An Giang; (vắng mặt)
  • + Ông Nguyễn Ngọc M1, sinh năm 1978; cư trú: Số H khóm M, phường L, tỉnh An Giang; (vắng mặt)
  • + Bà Lê Thị Trúc L4, sinh năm 1988; cư trú: Số E khóm M, phường L, tỉnh An Giang; (vắng mặt)
  • + Em Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 2008; cư trú: Số D khóm M, phường L, tỉnh An Giang;
  • Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị Duyên E1, cư trú: Số D khóm M, phường L, tỉnh An Giang; (vắng mặt)
  • + Ông Nguyễn Ngọc P2, sinh năm 1990; cư trú: Số C khóm M, phường L, tỉnh An Giang; (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hoàng E và Nguyễn Ngọc T4 có mâu thuẫn từ trước. Khoảng 15 giờ ngày 30 tháng 01 năm 2025, Hoàng E đến nhà Lưu Nguyễn Ngọc P, khóm T, phường L, tỉnh An Giang uống bia. Tại đây, có Trần Văn D, Nguyễn Phú C, Nhựt A (chưa rõ họ, địa chỉ); Hoàng E kể lại việc mâu thuẫn với T4 cho P biết, P bảo qua nhà gặp T4. Sau đó, Hoàng E mượn xe môtô Wave màu trắng (không nhớ biển số) chở P đến nhà T4 số 81/10/2, khóm M, phường L cách khoảng 700 mét. P vào hỏi T4 vì sao T4 và Hoàng E đánh nhau. Lúc này tại nhà T4 có Nguyễn Ngọc P2, Nguyễn Ngọc T2, thì P2 đến hỏi P có chuyện gì, còn T2 thấy P trả lời lớn tiếng nên đi ra khỏi nhà. Ngay sau đó, P2 cầm khúc cui gỗ dài khoảng 50cm đánh 01 cái trúng phía sau tai trái P, P chạy khoảng 15 mét ngã ngửa, thì T2 thấy 01 cây dao cán gỗ dài khoảng 14cm, mũi bằng cặp vách dương, lấy chém Phi 02 cái vào tay trái và gối phải, thì P bỏ chạy về nhà và được ông Lưu Ngọc P1 (cha ruột P) đưa đến Bệnh viện H3 rồi về.

Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, P rủ Hoàng E, Nguyễn Phú C, Trần Văn D, D rủ thêm H2 (chưa rõ họ, địa chỉ) cùng đi tìm T2 và P2 trả thù, tất cả đồng ý. Lúc này, P cầm thanh sắt vuông dài khoảng 70cm; Hoàng E cầm 01 chai xăng (chai thủy tinh chứa xăng); D cầm 01 cây súng bắn pháo; H2 cầm 01 cây dao dài 60cm, đi bộ về hướng nhà T4. Khi đi khoảng 50 mét, thấy các em Phạm Hoàng Q, sinh năm 2010, ngồi trên xe mô tô 68AB-010.82, Phạm Văn G, sinh năm 2006 và Nguyễn Thanh L5, sinh năm 2009 ngồi trên xe mô tô 65KA-004.68, nhóm của P nghi ngờ các em Q, G, Quí, L5 là người của nhóm T4, P2, T2 nên H2 dùng dao đuổi theo chém em L5; Hoàng E bật lửa chai xăng ném vào xe của em Q làm hư hỏng xe và em Q bị lửa cháy áo bỏng lưng, tay trái; em G bị bỏng nhẹ chân phải nên các em Q, G bỏ chạy. Sau đó lửa cháy lan đến hàng rào nhà chị Lê Thị Trúc L4 và cháy 01 quần ngắn nằm đang phơi. Sau đó P, C, Hoàng E, D và H2 tiếp tục cầm hung khí đi đến nhà T4 số 81/10/2, khóm M, phường L để tìm P2, T2. Tại đây, anh Nguyễn Ngọc M1 (cha T4) nói không có T4, T2, P2 ở nhà, thì P dùng thanh sắt đập cột nhà, C dùng dao chém 01 cái trúng tay trái ông M1, D dùng súng pháo cầm súng pháo hướng lên không gian bắn 01 phát; Hoàng E dùng gạch ném vào nhà anh M1. Lúc này, nghe nói Công an đến, thì P, Hoàng E, C, D, H2 bỏ chạy, khi gần đến nhà P, thì P, C ném hung khí gần khu vực nhà số B khóm T, phường M, còn H2 điều khiển xe chở D đến khu vực cầu N, phường L ném cây súng rồi chở D về nhà.

Ngày 08 tháng 02 năm 2025, Ủy ban nhân dân phường M (nay là phường L) có công văn đề nghị xử lý vụ việc gây mất an ninh trật tự xảy ra ngày 30 tháng 01 năm 2025 tại khu vực tổ A, khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Ngày 05 tháng 02 năm 2025, ngày 17 tháng 6 năm 2025 Phạm Hoàng Q, Lưu Nguyễn Ngọc P có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, ngày 08 tháng 9 năm 2025 Phạm Văn G, Nguyễn Ngọc M1 do thương tích nhẹ nên có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Ngày 04 tháng 6 năm 2025, Lưu Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Phú C, Lê Hoàng E đến Công an đầu thú hành vi trên.

* Kết luận giám định số 192/25/KLTTCT- TTPY, ngày 18/4/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh A đối với Phạm Hoàng Q, sinh năm 2010:

  • Sẹo bỏng vùng lưng phải, không ảnh hưởng đến điều tiết và thẩm mỹ, diện tích chiếm 01% diện tích cơ thể, tỷ lệ 01%.
  • Sẹo bỏng vùng lưng trái, không ảnh hưởng đến điều tiết và thẩm mỹ, diện tích chiếm 03% diện tích cơ thể, tỷ lệ 03%.
  • Sẹo bỏng vùng mặt sau từ 1/3 giữa cánh tay trái đến cổ tay trái, gây rối loạn sắc tố ảnh hưởng đến thẩm mỹ, diện tích chiếm 02% diện tích cơ thể, tỷ lệ 04%.
  • Kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là 08%, do bỏng nhiệt gây ra.

* Kết luận giám định số 311/25/KLTTCT- TTPY, ngày 10/7/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh A đối với Lưu Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1997:

  • Sẹo thái dương trái, kích thước (1.5 x 0.1) cm, sẹo lồi, hồng, tỷ lệ 01%, cơ chế do vật tày gây nên.
  • Sẹo mặt trước trong 1/3 dưới cẳng tay trái, kích thước (5.5 x 0.6) cm, sẹo lồi, hồng, bờ sắc, tỷ lệ 03%, cơ chế do vật sắc gây nên.
  • Sẹo mặt trước trong gối phải, kích thước (02 x 0.4) cm, sẹo lồi, hồng, tỷ lệ 01%, cơ chế do vật sắc gây nên.
  • Kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là 05%.

* Kết luận giám định số 110/KLHĐ, ngày 06/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L, đối với xe mô tô 68AB-010.82 bị hư hỏng gồm:

  • 01 bộ lọc gió 25.000 đồng.
  • 01 dây dẫn xăng từ bình xăng đến bình xăng con 20.000 đồng.
  • 01 dè trắng bùn 35.000 đồng.
  • 01 bình xăng con 325.000 đồng.
  • 01 miếng nhựa ốp sườn giữa xe 30.000 đồng.
  • Tổng tài sản thiệt hại do hư hỏng trị giá 435.000 đồng.

* Kết luận giám định số 3196/KL-KTHS, ngày 15/7/2025 của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh: Viên đạn gửi giám định là loại đạn cỡ (5,6x15,5)mm, thuộc vũ khí quân dụng. Loại đạn này sử dụng để bắn được với một số loại súng như K55, TOZ8, súng được chế tạo thủ công có cấu tại phù hợp.

Quá trình điều tra, các bị can Lưu Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Phú C, Trần Văn D, Lê Hoàng E và những người liên quan Nguyễn Ngọc P2 và Nguyễn Ngọc T2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi như nội dung vụ án đã nêu. Phi đã nhận bồi thường 1.000.000 đồng từ P2 và T2 nên không yêu cầu xử lý hình sự.

Phạm Hoàng Q, Phạm Văn G, Nguyễn Ngọc M1, Nguyễn Thanh L5 trình bày như nội dung vụ án đã nêu. Quí, G, M1 không yêu cầu khởi tố và không yêu cầu bồi thường dân sự.

Lê Thị Trúc L4 trình bày như nội dung vụ án, không yêu cầu bồi thường.

Huỳnh Văn N1 trình bày như nội dung vụ án đã nêu, sau khi sự việc xảy ra N1 nhặt được 01 viên đạn hình trụ, màu vàng đồng tại khu vực khóm T, phường M cách nhà T4 khoảng 60m nên giao nộp cho Công an.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, xử lý vật chứng:

  • 01 xe môtô nhãn hiệu ESPRO, biển số 68AB- 010.82, số khung: 016582, số máy: 016582 của Phạm Hoàng Q. Ngày 16 tháng 8 năm 2025, trả lại cho Q.
  • 01 xe mô tô Sirius màu đen mang biển số 65KA-004.68, số khung: 00130, số máy: 000130 của Phạm Văn G. Ngày 16 tháng 8 năm 2025, trả lại cho G.
  • 01 vỏ đạn hình trụ, màu vàng đồng, cỡ 5,6 x 15,5mm.
  • 01 chai thủy tinh bị vỡ phần đầu chai, bị cháy nám khói.
  • 01 áo thun màu đen bị cháy xém lưng áo.

Cáo trạng số 20/CT-VKSKV9-HS ngày 11/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang đã truy tố các bị cáo Lưu Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Phú C, Trần Văn D, Lê Hoàng E về tội “Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với các bị cáo Lưu Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Phú C, Trần Văn D, Lê Hoàng E về tội “Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

*Về trách nhiệm hình sự:

  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lưu Nguyễn Ngọc P từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Văn D từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.

Áp dụng Điều 56 BLHS, tổng hợp hình phạt với bản án số 01 ngày 16 tháng 7 năm 2025, bị Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang, xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lê Hoàng E và bị cáo Nguyễn Phú C từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, đề nghị:

Áp dụng Điều 46, 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 vỏ đạn hình trụ, màu vàng đồng, cỡ 5,6 x 15,5mm; 01 chai thủy tinh bị vỡ phần đầu chai, bị cháy nám khói; 01 áo thun màu đen bị cháy xém lưng áo.

- Về trách nhiệm dân sự:

Phạm Hoàng Q, Phạm Văn G, Nguyễn Ngọc M1 và Lê Thị Trúc L4 không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi dùng dao, thanh sắt là hung khí nguy hiểm đánh nhau trên địa bàn phường L gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội như nội dung Cáo trạng truy tố. Đối với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt bị cáo thống nhất, không có ý kiến tranh luận. Bị cáo ăn năn về hành vi vi phạm pháp luật, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không kêu oan, không khiếu nại cũng không có ý kiến về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã cung cấp lời khai phù hợp với nội dung, diễn biến sự việc ngày xảy ra vụ án, nên việc vắng mặt những người này tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, các bị cáo P, C, D và Hoàng E thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, hình ảnh trích xuất từ dữ liệu camera được công bố; biên bản khám nghiệm hiện trường; phù hợp với các kết luận giám định pháp y số 192/25/KLTTCT-TTPY ngày 18 tháng 4 năm 2025 đối với Phạm Hoàng Q; số 311/25/KLTTCT-TTPY ngày 10 tháng 7 năm 2025 đối với Lưu Nguyễn Ngọc P; Kết luận giám định số 110/KLHĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025 đối với xe mô tô 68AB – 010.82 và Kết luận giám định 3196/KL-KTHS, ngày 15/7/2025 của Phân Viện khoa học hình sự tại TP .; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã có đủ căn cứ xác định vào khoảng 16 giờ ngày 30 tháng 01 năm 2025 các bị cáo P, C, D và Hoàng E đã có hành vi dùng dao,thanh sắt vuông chai xăng (chai thủy tinh chứa xăng) đuổi theo chém em L5; Hoàng E bật lửa chai xăng ném vào xe của em Q làm hư hỏng xe và em Q bị lửa cháy áo bỏng lưng, tay trái với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là 08%; em G bị bỏng nhẹ chân phải, ngoài ra lửa cháy lan đến hàng rào và quần áo đang phơi nhà chị Lê Thị Trúc L4. Không dừng lại ở đó mà P, C, D và Hoàng E tiếp tục đến nhà của ông Nguyễn Ngọc M1, P dùng thanh sắt đập cột nhà, C dùng dao chém vào tay trái ông M1, D dùng súng pháo bắn hướng lên không gian; Hoàng E dùng gạch ném vào nhà anh M1. Trong quá trình điều tra, qua lời khai của từng bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng thì cách thức các bị cáo thực hiện hành vi, công cụ mà các bị cáo gây thương tích phù hợp với các vết thương trên người của Q, L5. Về ý thức của các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo P, C, D và Hoàng E đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về tính của vụ án thì thấy: Xuất phát từ mẫu thuẫn giữa nhóm của Lê Hoàng E với nhóm của Nguyễn Ngọc T4 nên Hoàng E đã cùng với D, C, P và Nhựt A đi tìm nhóm của T4 để giải quyết mâu thuẫn. Các bị cáo P, C, D và Hoàng E đã có hành vi dùng dao, thanh sắt vuông chai xăng (chai thủy tinh chứa xăng) đuổi chém L5; Hoàng E bật lửa chai xăng ném vào xe làm hư hỏng xe của Q và gây bỏng cho Q, L5. Lẽ ra, các bị cáo lựa chọn việc giải quyết mâu thuẫn bằng biện pháp ôn hòa, tuân thủ theo quy định của pháp luật nhưng ngược lại các bị cáo lại lựa chọn thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật, hậu quả là gây thương tích cho nhiều người và hư hỏng nhiều tài sản. Hành vi của các bị cáo là xem thường pháp luật sử dụng hung khí nguy hiểm rượt đuổi đánh nhau gây náo loạn khu phố gây mất an ninh, trật tự ở địa phương, gây hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân.

[5] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi của từng bị cáo:

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác; xâm phạm đến an ninh trật tự, an toàn xã hội; gây mất trật tự trị an một cách trái pháp luật. Riêng bị cáo D và P có nhân thân xấu, lẽ ra sau khi chấp hành xong hình phạt tù được giáo dục, cải tạo bị cáo phải cố gắng lao động trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, ngược lại các bị cáo tiếp tục vi phạm pháp luật. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội từng bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với,

H2, chưa rõ nhân thân, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.

Nguyễn Ngọc P2, Nguyễn Ngọc T2 gây thương tích cho Lưu Nguyễn Ngọc P tỷ lệ 05%, nhưng P có đơn không yêu cầu khởi tố, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với P2, T2 là có căn cứ.

Lưu Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Phú C, Trần Văn D, Lê Hoàng E sử dụng chai xăng và hung khí gây thương tích cho Phạm Hoàng Q tỷ lệ 08%, Phạm Văn G bỏng nhẹ vùng chân phải, Nguyễn Ngọc M1 01 vết thương nhẹ tay trái, nhưng Q có đơn không yêu cầu khởi tố, M1, Giàu có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với P, C, D, Hoàng E về hành vi “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ.

Đối với, hành vi của P, Hoàng E, C, D gây hư hỏng tài sản trị giá 435.000 đồng nhưng các bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản hoặc đã bị kết án về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh A không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng:

  • + Các bị cáo Lê Hoàng E và Nguyễn Phú C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • + Các bị cáo Lưu Nguyễn Ngọc P và Trần Văn D đang có tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ:

Các bị cáo được áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với Lê Hoàng E và Nguyễn Phú C và Lưu Nguyễn Ngọc P tự nguyện đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội: 01 vỏ đạn hình trụ, màu vàng đồng, cỡ 5,6 x 15,5mm; 01 chai thủy tinh bị vỡ phần đầu chai, bị cháy nám khói; 01 áo thun màu đen bị cháy xém lưng áo.

(Đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A và Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 – An Giang).

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Nguyễn Ngọc P2 và Nguyễn Ngọc T2 đã bồi thường cho Lưu Nguyễn Ngọc P 1.000.000đ. Phạm Hoàng Q, Phạm Văn G, Nguyễn Ngọc M1, Nguyễn Thanh L5 và Lưu Nguyễn Ngọc P không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[7] Về án phí:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

+ Tuyên bố các bị cáo Lưu Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Phú C, Trần Văn D, Lê Hoàng E về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

  1. Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lưu Nguyễn Ngọc P 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày từ ngày 04/6/2025.
  2. Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phú C 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày từ ngày 04/6/2025.
  3. Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 01/2025/HSST, ngày 16/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho hai bản án là 03 (ba) năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 4 năm 2025.
  4. Căn cứ: b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng E 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày từ ngày 09/7/2025.

+Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 vỏ đạn hình trụ, màu vàng đồng, cỡ 5,6 x 15,5mm; 01 chai thủy tinh bị vỡ phần đầu chai, bị cháy nám khói; 01 áo thun màu đen bị cháy xém lưng áo.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A và Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 – An Giang).

+ Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc các bị cáo Lưu Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Phú C, Trần Văn D, Lê Hoàng E mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

+ Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND KV9;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Phân trại tạm giam Chợ Mới cơ sở 2;
  • - CQĐT Công an tỉnh An Giang;
  • - THA tỉnh An Giang;
  • - Bộ phận THA Tòa án;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Đức Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2025/HS-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 88/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lưu Nguyễn Ngọc P và D9P gây rối TTCC
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger