|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 88/2026/HS-PT Ngày 03-02-2026 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ
Các Thẩm phán:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Phương
- Ông Nguyễn Văn Minh
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Đoàn Thục Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 791/2025/TLPT-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo Lư Thị Hoàng A do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 120/2025/HSST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo bị kháng cáo:
Họ tên: Lư Thị Hoàng A, giới tính: Nữ; sinh ngày 19 tháng 7 năm 1981 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú tại: số A N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ cũ: 168/57/74 N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh); Nơi ở hiện tại: số A H, Ấp A, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ cũ: 1886/78/7/2A H, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: lớp 02/12; con ông Lư Hòa T và bà Nguyễn Thị T1; gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; có chồng ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1973 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2016.
Tiền án: không.
Tiền sự: ngày 05/01/2024, Công an Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu" theo Quyết định số 41/QĐ-XPHC, ngày 23/01/2025, đóng phạt theo biên lai số: 0001200 số tiền 4.750.000 đồng.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/02/2025 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa. Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hồ Phước L, Luật sư Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 08 tháng 9 năm 2024, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp Công an phường P, Quận A (nay là phường B), Thành phố Hồ Chí Minh tuần tra. Khi đến trước nhà số B Đ, phường P, Quận A (nay là phường B), Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Lư Thị Hoàng A có hành vi buôn bán hàng cấm đã tiến hành thu giữ 19 bao thuốc lá điếu nhập lậu, có các nhãn hiệu gồm: 01 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu FORTE, 03 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu ZOUK, 04 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu RAISON, 04 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu ZEST, 02 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu MARLBORO, 04 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu CAPTAIN BLACK, 01 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu GEORGE KARELIAS AND SONS. Tổ công tác lập biên bản thu giữ vật chứng đưa Lư Thị Hoàng A về trụ sở Công an phường để điều tra, làm rõ.
Ngày 03/10/2024, H đã có công văn số: 174/CV- 2024 HHTLVN, kết luận: 19 bao thuốc lá có các nhãn hiệu: FORTE (01 bao), ZOUK (03 bao), RAISON (04 bao), ZEST (04 bao), MARLBORO (02 bao), CAPTAIN BLACK (04 bao), GEORGE KARELIAS AND SONS (01 bao) đều là thuốc lá điếu nhập lậu.
Trước đó, ngày 05 tháng 01 năm 2024, Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 41/QĐ-XPHC đối với Lư Thị Hoàng A về hành vi Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu và Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ với số tiền phạt 4.750.000 đồng; tịch thu tang vật là 84 bao thuốc lá điếu nhập lậu, 70 sản phẩm thuốc lá điện tử. Ngày 23 tháng 01 năm 2025, Lư Thị Hoàng A đã chấp hành Quyết định xử phạt theo biên lai số: 0001200.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lư Thị Hoàng A khai nhận do không có việc làm ổn định, bản thân bị bệnh, gia đình khó khăn nên đã mua lại thuốc lá lậu của nhiều người khác nhau (không rõ lai lịch) ở khu V, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, thanh toán mua thuốc lá lậu bằng tiền mặt. Từ tháng 8/2024 đến ngày bị bắt giữ bị cáo Hoàng A đã thu lợi bất chính khoảng 450.000 đồng. Ngày 19/8/2025, bị cáo Hoàng A đã tự nguyện nộp lại số tiền 450.000 tiền thu lợi bất chính.
Đối với những người bán thuốc lá nhập lậu cho bị cáo, do không xác định được lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh nếu có cơ sở sẽ xử lý sau.
Vật chứng vụ án:
- 19 bao thuốc lá có các nhãn hiệu: FORTE (01 bao), ZOUK (03 bao), RAISON (04 bao), ZEST (04 bao), MARLBORO (02 bao), CAPTAIN BLACK (04 bao), GEORGE KARELIAS AND SONS (01 bao).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 120/2025/HSST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 190; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Xử phạt: bị cáo Lư Thị Hoàng A 01 (một) năm tù, về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.
Ngày 26/9/2025, bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã xác định và vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin xem xét cho bị cáo được hưởng án treo do bản thân bị nhiễm HIV đang điều trị các biến chứng dài hạn, sức khỏe bị suy giảm nghiêm trọng; gia đình bị cáo khó khăn có 03 con đều còn nhỏ và cần được chăm sóc; bị cáo là lao động chính trong gia đình; sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp tiền khắc phục hậu quả và thời gian được tại ngoại không vi phạm pháp luật. Hiện tại, bị cáo không còn cư trú tại phường N, Quận A mà chuyển đến sinh sống tại địa chỉ A H, Ấp A, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Các cơ quan và người tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm đã tuân thủ quy định tố tụng hình sự, kháng cáo của bị cáo là hợp lệ.
Về nội dung: Bị cáo xin hưởng án treo và xuất trình các chứng cứ là tình tiết giảm nhẹ mới: bị nhiễm HIV và bị tai biến cần có thời gian điều trị, gia đình khó khăn có xác nhận của địa phương. Xét hành vi của bị cáo và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi thì Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ. Tuy nhiên về nhân thân có các tình tiết giảm nhẹ như án sơ thẩm đã áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ mới ở giai đoạn xét xử phúc thẩm nên có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 355, điểm e Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa một phần bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức phạt tù 01 (một) năm nhưng cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách là 02 (hai) năm cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất về tội danh và điều khoản truy tố, xét xử đối với bị cáo. Với tình trạng sức khỏe của bị cáo bị bệnh hiểm nghèo, gia đình khó khăn, phạm tội chỉ với 19 bao thuốc lá ngoại có giá trị không lớn và bị cáo đã khắc phục hậu quả, xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thiếu hiểu biết, không biết việc mua bán thuốc lá điếu ngoại là tội phạm hình sự. Xin cho bị cáo được hưởng án treo do sức khỏe của bị cáo không tốt cần được điều trị thường xuyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, hợp lệ.
Quá trình tố tụng ở cấp sơ thẩm đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, chứng cứ được thu thập hợp pháp, đủ cơ sở để giải quyết toàn bộ các vấn đề của vụ án.
[2] Về nội dung:
Đối chiếu lời khai của bị cáo với Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/9/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Thành phố Hồ Chí Minh và các chứng cứ đã thu thập có căn cứ kết luận: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 08 tháng 9 năm 2024, trước nhà số B Đ, phường P, Quận A (nay là phường B), Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Lư Thị Hoàng A đã có hành vi buôn bán 19 bao thuốc lá điếu nhập lậu về bán lại cho khách vãng lai thu lợi bất chính số tiền 450.000 đồng. Trước đó, ngày 05/01/2024, bị cáo bị Công an Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 41/QĐ-XPHC và ngày 23/01/2025 bị cáo đã đóng phạt theo biên lai số: 0001200 số tiền 4.750.000 đồng. Do vậy, Tòa án nhân dân Khu vực 1 đã xét xử bị cáo Lư Thị Hoàng A về tội “Buôn bán hàng cấm” điểm e khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025 là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Xét đơn kháng cáo của bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin được hưởng án treo với các lý do: bị cáo bị phơi nhiễm HIV từ lâu dẫn đến bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng, hiện đang tiếp tục điều trị, ngoài ra còn các bệnh nền kèm theo di chứng nhồi máu não, bệnh lý tăng huyết áp, sa sút trí tuệ do nguyên nhân mạch, viêm dạ dày và tá tràng, tăng lipid máu hỗn hợp...; ngoài ra, bị cáo trình bày thêm về hoàn cảnh gia đình khó khăn: là lao động chính lo cho 03 con lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2016, trong đó có 02 con còn nhỏ, đang đi học, con lớn tốt nghiệp đại học, chưa có việc làm cũng sống phụ thuộc vào thu nhập của bị cáo.
Xét, bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về cùng hành vi và phạm tội trong thời gian chưa được xóa tiền sự nên mặc dù hành vi bị phát hiện lần này chỉ buôn bán 19 gói thuốc lá ngoại vẫn cấu thành tội Buôn bán hàng cấm theo điểm e khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Căn cứ Công văn số 01/TANDTC-PC ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân tối cao xác định hành vi mua bán thuốc lá điếu ngoại là buôn bán hàng cấm nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo với hình phạt đã tuyên là đúng quy định.
Tuy nhiên, tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới về việc bản thân bị phơi nhiễm HIV và nhiều triệu chứng bệnh kèm theo; gia cảnh khó khăn – kết hợp với các tình tiết giảm nhẹ đã được Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận và giá trị hàng cấm vi phạm không lớn; bị cáo học vấn thấp (02/12) nên hạn chế về nhận thức nhưng chưa được ghi nhận tình tiết giảm nhẹ này; bản thân bị cáo cũng có nơi cư trú ổn định nên xét thấy không cần phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà chuyển thành hình phạt tù cho hưởng án treo với thời gian thử thách nhất định cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục chung và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật; đồng thời cũng phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm đã thực hiện. Hội đồng xét xử thấy có cơ sở áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt.
Quan điểm của Kiểm sát viên, ý kiến bào chữa của Luật sư phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí:
Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025;
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lư Thị Hoàng A, sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt.
Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025,
Xử phạt Lư Thị Hoàng A 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
(Đã giải thích chế độ án treo).
- Về án phí:
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thụy Vũ |
Bản án số 88/2026/HS-PT ngày 03/02/2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về hình sự - buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 88/2026/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/02/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội buôn bán hàng cấm
