Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 31-12-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Ngọc Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Ngọc Ngát.

Ông Lã Văn Minh.

- Thư ký phiên tòa:Ông Phan Văn Nam là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Khắc Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 375/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Thân Thị Thu H, sinh ngày 05 tháng 9 năm 1981.
  • Nơi cư trú: Thôn B, xã B, tỉnh Bắc Ninh.
  • Căn cước công dân: 024181012973.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1977.
  • Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh.
  • Căn cước công dân: 024077005368.
  • (Chị H và anh N đều vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05-11-2025 và những lời khai tiếp theo của nguyên đơn chị Thân Thị Thu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn N kết hôn tự nguyện, không bị ai ép buộc, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện S, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Đ, tỉnh Bắc Ninh) vào ngày 29 tháng 8 năm 2011. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không bảo ban được nhau nên nhiều lần xảy ra cãi vã, xích mích. Anh N không quan tâm đến gia đình, nhiều lần xúc phạm vợ, con. Do mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị đã về nhà đẻ tại thôn B, xã B, tỉnh Bắc Ninh sinh sống, vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng ly thân đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N.

Về con chung: Chị và anh N có một con chung là Nguyễn Kim H1, sinh ngày 18/8/2012. Nay ly hôn, chị xin nhận nuôi con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại các biên bản lấy lời khai khai, bị đơn là anh Nguyễn Văn N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Thân Thị Thu H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện S, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Đ, tỉnh Bắc Ninh) vào ngày 29 tháng 8 năm 2011. Tuy nhiên vài tháng sau khi chung sống thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng không hợp nhau, chị H bỏ về nhà mẹ đẻ tại thôn B, xã B, hai vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Nay chị H làm đơn đề nghị ly hôn thì anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh và chị H có một con chung là Nguyễn Kim H1, sinh ngày 18/8/2012. Nay ly hôn, anh nhất trí để chị H nuôi dưỡng con chung, việc cấp dưỡng nuôi con anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do nhà ở xa nên anh xin vắng mặt trong quá trình giải quyết, hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử.

Tại biên bản lấy lời khai, cháu Nguyễn Kim H1 trình bày: Hiện cháu đang sống cùng mẹ và học lớp 8C tại trường Trung học cơ sở B. Về việc bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có ý kiến như sau: Cháu không biết nguyên nhân bố mẹ ly hôn. Nếu bố mẹ ly hôn thì cháu không có ý kiến gì. Nguyện vọng của cháu là nếu bố mẹ không thể sống cùng nhau được nữa thì cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng mẹ là Thân Thị Thu H.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Thân Thị Thu H, bị đơn anh Nguyễn Văn N đều vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố lời khai, tóm tắt nội dung vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự: Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Đương sự đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 71 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 6, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Thân Thị Thu H được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
  • - Về con chung: Giao cho chị Thân Thị Thu H là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Kim H1, sinh ngày 18/8/2012.
  • - Về án phí: Chị Thân Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Thân Thị Thu H khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, giải quyết về nuôi con chung với anh Nguyễn Văn N. Bị đơn anh Nguyễn Văn N hiện đang cư trú tại thôn N, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh. Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án.

[2] Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Thân Thị Thu H, bị đơn anh Nguyễn Văn N vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H, anh N.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Thân Thị Thu H và anh Nguyễn Văn N tự nguyện kết hôn, trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện S, tỉnh Bắc Giang (nay là Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Bắc Ninh) vào ngày 29 tháng 8 năm 2011. Như vậy xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Trong quá trình chung sống chị H anh N đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi nhau, xích mích. Chị H cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau. Anh N cũng xác định cuộc sống có mâu thuẫn. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng chị H và anh N đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì thấy rằng: Tình trạng của vợ chồng chị H, anh N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần cho chị H được ly hôn với anh N.

[5] Về con chung: Chị Thân Thị Thu H và anh Nguyễn Văn N có một con chung Nguyễn Kim H1, sinh ngày 18/8/2012. Hội đồng xét thấy: Hiện nay con chung đang ở với chị H, được chăm nom, chăm sóc đầy đủ và đi học bình thường; con đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được ở với mẹ. Chị H có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung phát triển bình thường, anh N cũng đồng ý đề con chung cho chị H nuôi dưỡng. Do vậy, để bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con cũng như tôn trọng nguyện vọng của con trên 07 tuổi, Hội đồng xét xử thấy cần giao cho chị Thân Thị Thu H là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng con chung là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét, giải quyết do các đương sự không yêu cầu.

[5] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Thân Thị Thu H, anh Nguyễn Văn N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp.

[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết ly hôn, con chung, nghĩa vụ chịu án phí giữa chị Thân Thị Thu H và anh Nguyễn Văn N phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273 và 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án;
  • - Điều 4 và 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
  • - Điều 6 và 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thân Thị Thu H được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
  2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Kim H1, sinh ngày 18/8/2012 cho chị Thân Thị Thu H trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về án phí: Chị Thân Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0003694 ngày 19 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xác định chị Thân Thị Thu H đã nộp đủ án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn là chị Thân Thị Thu H, bị đơn là anh Nguyễn Văn N không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 5 - Bắc Ninh;
  • - THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 5 - Bắc Ninh;
  • - UBND xã Đại Sơn, tỉnh Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Ngọc Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 88/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 375/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger